Bản án 20/2019/HS-ST ngày 06/06/2019 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 20/2019/HS-ST NGÀY 06/06/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 06/6/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2019/HS- ST, ngày 24/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST-HS ngày 24/5/2019 đối với bị cáo:

Chu Văn H - Sinh năm 1975; Nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Văn Đ (đã chết ) và bà: Lò Thị E - Sinh năm: 1957 Bị cáo có vợ: Hà Thị Kh - Sinh năm: 1979 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/5/2019 tại xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (Có mặt).

* Người làm chứng:

1/ Lò Văn H - Sinh năm 1990;

Nơi ĐKHKTT: Bản L, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu

2/ Lò Văn B - Sinh năm 1991;

Nơi ĐKHKTT: Bản L, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

3/ Tòng Văn Th – Sinh năm: 1975;

Địa chỉ: Bản L, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

4/ Hoàng Văn Y – Sinh năm: 1993

Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

(Đều có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 14/01/2019, Chu Văn H (đi từ nhà ở bản Là 1, Mường Kim, Than Uyên sang bản Là 2, Mường Kim, Than Uyên mục đích để xem đường ống dẫn nước của gia đình bị hỏng. Chu Văn H đi đến bãi đất trống thuộc bản L, xã M thì nhìn thấy Hoàng Văn Y (SN: 1993, trú tại Bản N, xã M, Than Uyên), Lò Văn H (SN: 1990 trú tại Bản L xã M, Than Uyên), Lò Văn B (SN: 1991, trú tại: bản Là 2, Mường Kim, Than Uyên) và Tòng Văn Th (SN: 1975, trú tại Bản Là 2, Mường Kim, Than Uyên) đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức “Xóc đĩa” nên H vào cùng tham gia đánh bạc. Quá trình đánh bạc H, H, Y, B, Th thỏa thuận về hình thức đánh bạc như sau: 01 người sẽ cầm cái, sau khi người cầm cái cho 04 quân vị vào đĩa, úp bát sau đó xóc xong thì đặt xuống chiếu (lúc này chưa mở bát ra), những người còn lại đặt cược tùy ý vào cửa chẵn hoặc cửa lẻ. Cửa lẻ được quy ước là 03 quân vị cùng màu và 01 quân khác màu. Cửa chẵn là có 02 hoặc 04 quân vị cùng màu. Mỗi ván người chơi đặt cược tùy ý, mức cược thấp nhất là 20.000đồng và cao nhất là 500.000đồng, người cầm cái có thể nhận cá cược hết số tiền đặt cược với người chơi hoặc chỉ nhận cá cược một phần còn lại người chơi tự thỏa thuận với nhau. Khi người chơi đặt cược tiền xong thì người cầm cái mở bát, nếu kết quả lẻ thì ai đặt cửa lẻ thắng và được trả tiền, nếu chẵn thì người đặt cửa chẵn thắng, tiền theo tỷ lệ “1 ăn 1”, số tiền cược ở cửa chẵn, lẻ do người cầm cái tính toán với người đặt cược hoặc người chơi tự tính toán trả cho nhau theo thỏa thuận. Sau khi thống nhất hình thức và số tiền sát phạt nhau trong mỗi lần xóc đĩa, Chu Văn H lấy trong người số tiền 20.000đồng cùng tham gia đánh bạc được khoảng 30 phút thì H thua hết tiền và tiếp tục ngồi xem Y, H, B, Th đánh bạc.

Hồi 00 giờ 30 phút ngày 15/01/2019, Hoàng Văn Y, Lò Văn H, Lò Văn B và Tòng Văn Th bị Công an huyện Than Uyên bắt quả tang về hành vi đánh bạc, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.890.000 đồng, một chiếc bát, một chiếc đĩa và bốn quân vị dùng để đánh bạc. Ngay thời điểm lực lượng Công an huyện Than Uyên đếnChu Văn H đã bỏ chạy sau đó về Hà Nội đi làm thuê đến ngày 06/5/2019, Chu Văn H trở về địa phương và đến Cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội. Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được phù hợp với lời khai của Chu Văn H nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Chu Văn H về tội: Đánh bạc.

Quá trình điều tra, truy tố Chu Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng của vụ ángồm: Đang được lưu giữ trong vụ án Hoàng Văn Y cùng đồng phạm, phạm tội: Đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 24/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Chu Văn H về tội:“Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 - Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Chu Văn H đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Than Uyên trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Chu Văn H phạm tội:“Đánh bạc”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Xử phạt bị cáo Chu Văn H từ 06 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo.

Ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 - Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội củabị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Tối ngày 14/01/2019, tại bãi đất trống thuộc bản Là 2, Mường Kim, Than Uyên, Chu Văn H đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi “ Xóc đĩa” cùng Hoàng Văn Y, Lò Văn B, Tòng Văn Th và Lò Văn H sát phạt nhau bằng tiền Việt Nam đồng. Hồi 00 giờ 30 phút ngày 15/01/2019, Y, H, B, Th bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang về hành vi đánh bạc, thu giữ trên chiếu bạc là số tiền 5.890.000đồng; 01 chiếc bát; 01 chiếc đĩa; 04 quân vị dùng để đánh bạc. Lúc này, H bỏ chạy đến ngày 06/5/2019, Chu Văn H đến Cơ quan điều tra đầu thú về hành vi đánh bạc với vai trò đồng phạm số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 5.890.000đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Chu Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” theo Điều 321 – BLHS.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Lai Châu truy tố đối với bị cáo Chu Văn H về tội:“Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 – BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo Chu Văn H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức để điều khiển hành vi của mình song với ý thức coi thường pháp luật và những lợi ích vật chất bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Do vậy, cần phải có một hình phạt phù hợp, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Đánh giá vai trò của bị cáo trong vụ án thì thấy rằng: Đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà không có sự phân công, bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, số tiền tham gia đánh bạc không lớn. Nhưng cần đánh giá vai trò, mức độ phạm tội của bị cáo để lên mức hình phạt cho phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Chu Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức còn hạn chế. Bố đẻ của bị cáo là ông Chu Văn Đăm được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Sau khi hành vi bị phát giác, bị cáo đã ra đầu thú tại Cơ quan điều tra. Do đó xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo Chu Văn H có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao. Tạo điều kiện cho bị cáo được giáo dục, cải tạo tại địa phương, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà ăn năn hối cải, sữa chữa sai phạm của mình, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 3 điều 321 – Bộ luật hình sự 2015 quy định hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Song, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp chính của bị cáo là làm ruộng, không có thu nhập ổn định.Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối vớibị cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án gồm: Đã được giải quyết trong vụ án Hoàng Văn Y cùng đồng phạm, phạm tội: “ Đánh bạc” nên không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Chu Văn H là cá nhân thuộc hộ nghèo của xã Mường Kim, tại phiên tòa bị cáo đề nghị miễn án phí nên HĐXX xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về kiến nghị phòng ngừa tội phạm: Không

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo: Chu Văn Hphạm tội: “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Xử phạt bị cáo Chu Văn H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng treo

Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 06/6/2019).

Giao bị cáo Chu Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Mường Kim, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về vật chứng: Không phải giải quyết. 

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 – Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chu Văn H.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 – Bộ luật tố tụng hình sự 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày lên Toà án cấp trên kể từ ngày tuyên án.


25
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về