Bản án 20/2019/HS-ST ngày 18/03/2019 về tội tàng trữ hàng cấm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 20/2019/HS-ST NGÀY 18/03/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Ngày 18 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Hoàng Văn N, sinh ngày 06 tháng 3 năm 1996; nơi sinh và nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Xuân H và bà: Ngô Thị H, có vợ là Hà Thị P và có 01 con; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15 tháng 12 năm 2018 đến ngày 20 tháng 12 năm 2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương, “có mặt”.

-Người tham gia tố tụng khác:

-Người làm chứng

- Ông Vũ Văn H, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 15 tháng 12 năm 2018, tại đoạn Đường giao thông thuộc địa phận khu định cư thôn Vĩnh Phượng, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Bình Xuyên kiểm tra phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn N điều khiển xe mô tô BKS 88C1- 001.02 đang có hành vi tàng trữ trái phép pháo. Cơ quan Công an thu giữ bên trong bao tải màu xanh tại yên xe phía sau của xe mô tô BKS 88C1-001.02: 06 hộp hình khối vuông kích thước (17x17x17) cm, bên ngoài mỗi hộp có ký hiệu chữ nước ngoài, bên trong có 36 vật hình trụ, tròn, bằng giấy màu nâu được gắn kết với nhau bằng băng dính quấn xung quanh có 01 dây xanh thò ra ngoài được niêm phong ký hiệu A; 43 vật thể hình bóng đèn điện tròn bên ngoài là giấy có ghi ký hiệu chữ nước ngoài, mỗi đầu đều có gắn dây ngòi màu xanh, đường kính mỗi mẫu vật là 03cm, cao 6,5cm, 43 vật trên được để trong 01 túi nilon màu vàng được niêm phong ký hiệu A1, ngoài ra còn tạm giữ của nam 01 xe mô tô BKS88C-1001.02 loại xe Wave màu xanh đã cũ, 01 điện thoại di động sam sung màu vàng đen đã cũ, 01 ví giả da màu nâu bên trong có 1.000.000 đồng.

Cùng ngày 15 tháng 12 năm 2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình xuyên đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn N ở thôn L, xã T, huyện T, Vĩnh Phúc, kết quả không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến vụ án. Ngày 15 tháng 12 năm 2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình xuyên đã ra quyết định số 43 trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Vĩnh Phúc xác định: Mẫu vật gửi giám định có phải pháo nổ hoặc có đầy đủ đặc tính của pháo nổ không? Tổng khối lượng của toàn bộ số pháo trong mẫu vật gửi giám định. Tại kết luận giám định số 1905 ngày 19 tháng 12 năm 2018 của phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “06 khối hộp của mẫu gửi đến giám định ký hiệu A đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng của mẫu gửi đến giám định là 13,5kg. 43 các vật hình bóng đèn điện của mẫu gửi đến giám định ký hiệu A1 đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng của mẫu gửi đến giám định là 1,64kg. Tổng khối lượng của mẫu gửi đến giám định ký hiệu A và A1 là 15,14kg”.

Hoàn trả 05 hộp pháo có tổng khối lượng là 11,25kg và 38 quả pháo hình bóng đèn điện có tổng khối lượng là 1,44kg được niêm phong chung trong 01 hộp bìa cát tông.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Xuyên Hoàng Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Quá trình điều tra xác định Hoàng Văn N trước khi phạm tội có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Về nguồn gốc số pháo, quá trình điều tra Hoàng Văn N khai nhận: N mua của một người đàn ông có tên tài khoản facebook là “H” tại bến xe Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này.

Về vật chứng vụ án: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 12,69kg pháo và bao gói cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu vàng đen đã cũ của Hoàng Văn N sử dụng để liên lạc, trao đổi mua bán pháo cần tịch thu sung ngân sách.

Đối với chiếc mô tô BKS: 88C1-001.02 quá trình điều tra N khai nhận là xe mô tô của N mua lại của một nam thanh niên không quen biết vào khoảng cuối năm 2016 để sử dụng làm phương tiện đi lại, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh làm rõ là xe mô tô của anh Đào Hữu H, sinh năm 1989, Hộ khẩu thường trú: xã M, huyện H, Bắc Giang bị kẻ gian trộm cắp vào khoảng cuối năm 2016. Ngày 21 tháng 01 năm 2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Xuyên đã chuyển chiếc xe máy này cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 ví giả da màu nâu, số tiền 1.000.000 đồng của N không liên quan đến việc mua bán pháo cần trả lại cho N nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án

Kết quả điều tra xác định Hoàng Văn N trược khi phạm tội có nghề nghiệp, thu nhập ổn định do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với N.

Bản Cáo trạng số 09/CT-VKSBX, ngày 13 tháng 2 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 12 (Mười hai) tháng tù đến 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Người làm chứng là ông Vũ Văn H trình bày: Ông là bí thư chi bộ thôn Hiệp Hải, Thiện Kế, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc, khoảng 13 giờ ngày 15 tháng 12 năm 2018 ông được Cơ quan Công an huyện Bình Xuyên mời đến Công an xã Thiện Kế, Bình Xuyên chứng kiến việc Cơ quan Công an bắt giữ 01 đối tượng là nam giới tự khai nhận là Hoàng Văn N, sinh năm 1996 trú tại thôn L, xã T, huyện T, Vĩnh Phúc vận chuyển 01 bao tải màu xanh bên trong có 06 hộp nghi là pháo, ký hiệu chữ nước ngoài, kích thước từng hộp là 17x17x17 cm và 43 vật thể nghi là pháo có hình bóng điện tròn bọc bên ngoài bằng giấy mỗi đầu có gắn dây ngòi màu xanh. N khai là pháo mua về để đốt dịp tết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét thấy tại phiên toà bị cáo Hoàng Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 12 giờ 30 ngày 15 tháng 12 năm 2018, tại đường giao thông thuộc khu tái định cư thôn Vĩnh Phượng, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Bình Xuyên kiểm tra phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn N đang có hành vi tàng trữ 15,14kg pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ).

Theo hướng dẫn tại Công văn số 340/TANDTC-PC ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán “pháo hoa nổ” trong nội địa và Công văn số 128/VKSTC-V3 ngày 10/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc xử lý hành vi liên quan đến pháo thì “Trường hợp kết luận giám định của Cơ quan chuyên môn xác định vật chứng thu giữ là pháo… có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và gây tiếng nổ) thì xem xét xử lý về hình sự, không phụ thuộc vào việc loại pháo này có đặc tính khác (như tạo hiệu ứng ánh sáng, có màu sắc…)…”.

[2] Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án đã thu giữ; cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Hoàng Văn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà nhà nước cấm lưu thông. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng vì vậy được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét thấy không cần thiết phải phạt giam mà cho bị cáo được hưởng án treo tự cải tạo tại địa phương theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp, có thu nhập ổn định, nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án và các vấn đề khác:

Cần tịch thu, tiêu hủy đối với 12,69kg pháo và toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn lại.

Tịch thu bán sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Sam sung màu vàng đen đã cũ của Hoàng Văn N là công cụ trao đổi mua bán pháo.

Cần trả lại cho N 01 ví giả da màu nâu, số tiền 1.000.000 đồng của N vì không liên quan đến việc phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. 

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

Bình Xuyên, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 01(Một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho ủy ban nhân xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo này cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. 

Tịch thu, tiêu hủy 12,69kg pháo và toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn lại.

Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Sam sung màu vàng đen đã cũ của Hoàng Văn N là công cụ trao đổi mua bán pháo.

Trả lại cho N 01 ví giả da màu nâu, số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) vì không liên quan đến việc phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tất cả các vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên lập ngày 14 tháng 02 năm 2018.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.


27
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về