Bản án 211/2006/KDTM-ST ngày 17/05/2006 về việc tranh chấp hợp dồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 211/2006/KDTM-ST NGÀY 17/05/2006 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 17 tháng 5 năm 2006 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/KTST ngày 20 tháng 01 năm 2006 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 857/2006/QĐXX-ST ngày 04 tháng 5 năm 2006 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Địa chỉ: 02 Láng Hạ, quận Ba Đình, TP. Hà Nội

Địa chỉ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Chợ Lớn, TP. Hồ Chí Minh : 24 Phú Giáo, phường 14, quận 5, TP.HCM

Có Bà Lưu Thị Minh Hiền, là Phó giám đốc, làm đại diện được ủy quyền theo giấy ủy quyền số 676/NHNoCL-HCNS ngày 27-3-2006 của Giám đốc chi nhánh Ngân hàng.

Bị đơn: Ông Đoàn Thế Nho, sinh năm 1958, CMND Số 022278193 do Công an TP. HCM cấp ngày 03-10-2002.

Địa chỉ: 822 Sư Vạn Hạnh , phường 12, quận 10, TP.HCM, Có mặt.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đoàn Thế Nho, sinh năm 1958, CMND soÁ 022278193 do Công an TP. HCM cấp ngày 3-10-2002, Có mặt.

2. Bà Lê Thị Cúc, sinh năm 1959, CMND Số 022489936 do Công an Tp. HCM cấp ngày 20-03-1995, vắng mặt.

Cả hai cùng ngụ tại: 822 Sư Vạn Hạnh , phường 12, quận 10, Tp.HCM.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 12-12-2005 và tại biên bản hòa giải ngày 13-3-2006 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn TP. Hồ Chí Minh thì:

Ngày 30-12-2003 Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn TPHCM có ký hợp đồng tín dụng số 16.1203.51/BĐTV-TC với ông Đoàn Thế Nho với nội dung: ông Đoàn Thế Nho vay của Ngân hàng 3.000.000.000 đồng, với mức lãi suất là 0,90%/tháng; lãi quá hạn là 1,35%/tháng. Thời hạn vay là 12 tháng. Thời hạn trả nợ là ngày 31-12-2004.

Để bảo đảm cho ông Đinh Thế Nho vay tiền tại Ngân hàng, ông Nho và bà Lê Thị Cúc, đã sử dụng căn nhà căn nhà 822 Sư Vạn Hạnh, phường 12, quận 10, TP.HCM do ông bà đồng sở hữu theo để thế chấp tại Ngân hàng nhằm bảo lãnh cho ông Nho vay tiền tại ngân hàng theo hợp đồng thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng số16.1203.51/TC đã được chứng thực tại Phòng công chứng số 4 số 043088 quyển số 8 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31-12-2003.

Tính đến ngày 13-3-2006 ông Nho còn nợ Ngân hàng số tiền là 3.660.150.000 đồng. Trong đó có nợ gốc là 3 tỷ đồng và nợ lãi tính đến ngày 13-3-2006 là 660.150.000 đồng.

Do ông Nho không trả nợ đúng hạn mặc dù đã được ngân hàng gia hạn, đôn đốc và nhắc nhở nhiều lần nên Ngân hàng đã làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Đoàn Thế Nho phải trả cho Ngân hàng số nợ 3.660.150.000 đồng. Từ ngày 14/3/2006 Ngân hàng sẽ tiếp tục tính lãi theo mức lãi quá hạn của ngân hàng nhà nước quy định trên số nợ gốc cho đến khi trả hết nợ. Nếu ông Đoàn Thế Nho không trả nợ thì chúng tôi đề nghị Tòa án phát mãi căn nhà 822 Sư Vạn Hạnh, phường 12, quận 10, TP.HCM do ông Đoàn Thế Nho và bà Lê Thị Cúc đồng sở hữu theo hợp đồng thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng số16.1203.51/TC đã được chứng thực tại Phòng công chứng số 4 số 043088 quyển số 8 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31-12-2003, để ngân hàng thu hồi nợ.

Ý kiến của Ông Đoàn Thế Nho: Tôi xác nhận trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng số 16.1203.51/BĐTV-TC ký ngày 30-12-2003 tính đến ngày 13-03-2006 còn nợ ngân hàng là 3.660.150.000 đồng. Tôi xin gia hạn trả nợ đến ngày 30-09-2006. Nếu quá hạn không trả nợ, chúng tôi đồng ý giao căn nhà 822 Sư Vạn Hạnh, phường 12, quận 10, TP.HCM cho ngân hàng bán để trừ nợ, trường hợp không đủ trả nợ thì chúng tôi sẽ trả bù thêm.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Đoàn Thế Nho và bà Lê Thị Cúc): Chúng tôi đồng ý với ý kiến của Đoàn Thế Nho xin trả số nợ trên cho Ngân hàng chậm nhất đến ngày 30-9-2006. Nếu không trả nợ đúng thời hạn trên, chúng tôi đồng ý phát mãi căn nhà 822 Sư Vạn Hạnh, phường 12, quận 10, TP.HCM do chúng tôi làm chủ sở hữu đã thế chấp tại Ngân hàng để bảo lãnh cho ông Nho vay tiền tại ngân hàng theo hợp đồng thế chấp tài sản để bảo lãnh vay vốn số16.1203.51/TC đã được chứng thực tại Phòng công chứng số 4 số 043088 quyển số 8 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31-12-2003.

Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức cho các bên đương sự hòa giải nhiều lần nhưng các bên không thống nhất với nhau về cách trả nợ nên Tòa lập biên bản hòa giải không thành và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay:

Nguyên đơn (Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam) : Chúng tôi yêu cầu ông Đoàn Thế Nho phải trả cho Ngân hàng số nợ của hợp đồng tín dụng số 16.1203.51/BĐTV-TC ký ngày 30-12-2003 số tiền là 3.710.100.000 đồng. Trong đó có nợ gốc là 3 tỷ đồng. Lãi phát sinh tính đến ngày 17-5-2005 là 710.100.000 đồng. Từ ngày 18-5-2006 Ngân hàng sẽ tiếp tục tính lãi theo mức lãi quá hạn của ngân hàng nhà nước quy định trên số nợ gốc cho đến khi trả hết nợ. Nếu ông Đoàn Thế Nho không trả nợ thì chúng tôi đề nghị Tòa án phát mãi căn nhà 822 Sư Vạn Hạnh, phường 12, quận 10, TP.HCM do ông Đoàn Thế Nho và bà Lê Thị Cúc đồng sở hữu theo đã thế chấp cho ngân hàng hợp đồng thế chấp tài sản vay vốn số16.1203.51/TC đã được chứng thực tại Phòng công chứng số 4 số 043088 quyển số 8 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31-12-2003, để ngân hàng thu hồi nợ.

Bị đơn (ông Đoàn Thế Nho): Tôi xác nhận trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng số 16.1203.51/BĐTV-TC ký ngày 30-12-2003 tôi còn nợ ngân hàng nợ gốc là 3.000.000.000 đồng. Về lãi phát sinh tôi nghĩ ngân hàng tính là chính xác và phù hợp với quy định của ngân hàng. Tôi chỉ xin gia hạn trả nợ đến ngày 30-09-2006. Nếu quá hạn không trả nợ, chúng tôi đồng ý giao căn nhà 822 Sư Vạn Hạnh, phường 12, quận 10, TP.HCM cho ngân hàng để bán thu hồi nợ, trường hợp không đủ trả nợ thì chúng tôi sẽ trả bù thêm.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Đoàn Thế Nho): Tôi xác nhận nghĩa vụ bảo lãnh của mình, tuy nhiên tôi xin trả số nợ trên cho Ngân hàng chậm nhất đến ngày 30-9-2006. Nếu không trả nợ đúng thời hạn trên, tôi đồng ý phát mãi căn nhà 822 Sư Vạn Hạnh, phường 12, quận 10, TP.HCM do chúng tôi làm chủ sở hữu đã thế chấp tại Ngân hàng để bảo lãnh cho ông Nho vay tiền tại ngân hàng theo hợp đồng thế chấp tài sản để bảo lãnh vay vốn số16.1203.51/TC đã được chứng thực tại Phòng công chứng số 4 số 043088 quyển số 8 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31-12-2003.

Bà Lê Thị Cúc: Vắng mặt.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử có nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ đại diện bà Lê Thị Cúc tham gia phiên Tòa với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến lần thứ hai nhưng bà Cúc vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 điều 201 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Hội đồng xét xử quyết định việc xét xử vẫn được tiến hành với sự vắng mặt của bà Lê Thị Cúc.

Về thẩm quyền giải quyết : Xét bị đơn là ông Đoàn Thế Nho có trụ sở tại TP.Hồ Chí Minh. Do đó, khi có tranh chấp phát sinh trong việc thực hiện các hợp đồng tín dụng nói trên; căn cứ vào vào điểm m, khoản 1, điều 29 và điểm a, điểm a, khoản 1, điều 35 Bộ Luật tố tụng Dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án trên thuộc Tòa án nhân dân TP. Hồù Chí Minh.

Về thời hiệu khởi kiện: Xét tại điều 9 của hợp đồng tín dụng số 16.1203.51/BĐTV-TC ký ngày 30/12/2003 quy định hiệu lực hợp đồng như sau : “Hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày ký cho đến khi bên B (ông Đoàn Thế Nho) trả xong cả nợ gốc và lãi”. Do ông Nho chưa trả nợ gốc và lãi nên Ngân hàng đã làm đơn khởi kiện; căn cứ vào điểm a, khoản 3, điều 159 Bộ Luật tố tụng Dân sự thì đơn khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam nằm trong thời hiệu khởi kiện.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai nhận của các bên đương sự có cơ sở xác định giữa Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn TP. Hồ Chí Minh và ông Đoàn Thế Nho có ký hợp đồng tín dụng số 16.1203.51/BĐTV-TC ký ngày 30/12/2003, hợp đồng trên đã được đại diện có thẩm quyền của các bên ký kết nên có giá trị pháp lý buộc các bên phải thực hiện.

Xét việc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam yêu cầu ông Nho phải hoàn trả nợ của hợp đồng tín dụng số 16.1203.51/BĐTV-TC ký ngày 30/12/2003 số tiền là nợ là 3.710.100.000 đồng. Trong đó có nợ gốc là 3 tỷ đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 17-5-2005 là 710.100.000 đồng. Từ ngày 18-5-2006 Ngân hàng sẽ tiếp tục tính lãi theo mức lãi quá hạn trên số nợ gốc cho đến khi trả hết nợ. Hội đồng xét xử có nhận định như sau:

Về số nợ gốc : Xét tại phiên Tòa bị đơn là ông Đoàn Thế Nho xác nhận còn nợ Ngân hàng số nợ gốc là 3.000.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nho phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 3.000.000.000 đồng.

Về lãi suất phát sinh : Xét trong việc thực hiện hợp đồng trên, ông Nho là bên vi phạm hợp đồng, không trả nợ đúng hạn quy định trong hợp đồng nên việc Ngân hàng căn cứ vào điều 2 và 3 của hợp đồng tính lãi phát sinh đến ngày 17-5-2006 là 710.100.000 đồng, theo thông tin khách hàng ngày 16-5-2006 của Ngân hàng tính là chính xác và có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tổng công ông Nho phải trả cho Ngân hàng số tiền là 3.710.100.000 đồng.

Trong trường hợp ông Đoàn Thế Nho không trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh phát mãi căn nhà 822 Sư Vạn Hạnh, phường 12, quận 10, TP.HCM do ông Đoàn Thế Nho và bà Lê Thị Cúc đồng sở hữu đã thế chấp cho ngân hàng theo hợp đồng thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng số16.1203.51/TC đã được chứng thực tại Phòng công chứng số 4 số 043088 quyển số 8 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31-12-2003, để ngân hàng thu hồi nợ.

Về án phí, căn cứ vào khoản 2, điều 15 Nghị định 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ quy định chi tiết về án phí và lệ phí của Tòa án, ông Đoàn Thế Nho phải chịu án phí trên số tiền 3.710.100.000 đồng. Tiền án phí là 30.710.000 đồng.

Hoàn trả tiền án phí đã nộp là 15.268.295 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 001096 ngày 09-01-2006 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào vào điểm m, khoản 1, điều 29 và điểm a, điểm a, khoản 1, điều 35 Bộ Luật tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào khoản 2 điều 201 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản;

- Căn cứ Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, buộc ông Đoàn Thế Nho phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn TPHCM số nợ của hợp đồng tín số 16.1203.51/BĐTV-TC ký ngày 30/12/2003 số nợ là 3.710.100.000 đồng. Trong đó có nợ gốc là 3 tỷ đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 17-5-2005 là 710.100.000 đồng. Từ ngày 18/5/2006 Ngân hàng sẽ tiếp tục tính lãi theo mức lãi quá hạn trên số nợ gốc cho đến khi trả hết nợ.

Trong trường hợp ông Đoàn Thế Nho không trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh phát mãi căn nhà 822 Sư Vạn Hạnh, phường 12, quận 10, TP.HCM do ông Đoàn Thế Nho và bà Lê Thị Cúc đồng sở hữu đã thế chấp cho ngân hàng theo hợp đồng thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng số16.1203.51/TC đã được chứng thực tại Phòng công chứng số 4 số 043088 quyển số 8 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31-12-2003, để ngân hàng thu hồi nợ.

2. Về án phí:

Ông Đoàn Thế Nho phải chịu án phí sơ thẩm là 30.710.000 đồng, nộp tại Thi hành án dân sự TP.Hồ Chí Minh.

Hoàn trả tiền án phí đã nộp là 15.268.295 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 001096 ngày 09-01-2006 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam , Chi nhánh Chợ Lớn.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên Tòa (bà Lê Thị Cúc) thì thời hạn này được tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết, các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao./


169
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 211/2006/KDTM-ST ngày 17/05/2006 về việc tranh chấp hợp dồng tín dụng

Số hiệu:211/2006/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:17/05/2006
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về