Bản án 21/2017/HNGĐ-ST ngày 14/07/2017 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 21/2017/HNGĐ-ST NGÀY 14/07/2017 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 14 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 43/2017/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm2017 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số19/2017/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2017/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp M, xã A, huyện C,tỉnh T.

Bị đơn: Ông Hà Giang H1, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 3 năm 2017, bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: 

Bà và ông Hà Giang H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 8 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh B. Quá trình chung sống ông bà hạnh phúc một thời gian, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do do ông H1 thường xuyên uống rượu và có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Hiện tình cảm của bà đối với ông H1 không còn, cuộc sống chung không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hà Giang H1.

Quá trình chung sống, bà và ông H1 có 02 con chung là N, sinh ngày 08/4/2008, và cháu N2, sinh ngày 23/01/2011; các cháu hiện đang sống cùng với bà. Khi ly hôn, bà có nguyện vọng nuôi dưỡng hai con không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa ông Hà Giang H1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa HĐXX, người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn Hà Giang H1 không cung cấp bản tự khai, tài liệu, chứng cứ và vắng mặt tại phiên tòa; nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử là đúng quy định.

- Về nội dung vụ án: Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Hà Giang H1 đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn được; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung đề nghị HĐXX giao cháu N và cháu N2 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Hà Giang H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu, đề nghị HĐXX không xem xét. Bà H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Hà Giang H1; đồng thời yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con là N và N2, bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng; bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Ông Hà Giang H1 là bị đơn, có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã S, huyện H, tỉnh B nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Ông Hà Giang H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác nhưng không cung cấp bản tự khai, không đến Tòa án theo triệu tập được xem là từ bỏ quyền của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo quy định

Ngày 18 tháng 5 năm 2017 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo quy định.

Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Hà Giang H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 8 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh B do vậy quan hệ giữa bà H và ông H1 là quan hệ vợ chồng được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân gia đình thì “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Bà H cho rằng trong quá trình sống chung với ông H1 tại thôn T, xã S, huyện H, ông H1 hay uống rượu và quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng; hiện tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông H1. Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/5/2017, bà Trương Thị Vân là mẹ ruột của ông H1, sống chung nhà với ông H1 và bà H thừa nhận ông H1 và bà H thường xuyên có mâu thuẫn, nhiều lần cãi nhau làm ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu Nhân và cháu Nhi, nhưng nguyên nhân cụ thể thì bà Vân không biết. Quá trình giải quyết vụ án, ông Hà Giang H1 không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào cũng như không có mặt theo giấy triệu tập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Ngọc H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con chung là N và N2, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy các cháu hiện đang sống với bà H, bà H có thu nhập ổn định nên có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng các cháu và cháu N cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, quyền lợi về mọi mặt của các cháu, Hội đồng xét xử nên giao các con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Tài sản chung và nợ chung, đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xửkhông xem xét.Về án phí, bà H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Hà Giang H1.

2. Về con chung:

Giao hai cháu: N, sinh ngày 08/4/2008 và N2, sinh ngày 23/01/2011 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Hà Giang H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Hà Giang H1 có quyền thăm nom con chung, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, Ông H1 và bà H có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân gia đình bà H đã nộp theo Biên lai số 0011319 ngày 15 tháng 3 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2017/HNGĐ-ST ngày 14/07/2017 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

Số hiệu:21/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Tân - Bình Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về