Bản án 21/2018/HNGĐ-ST ngày 02/04/2018 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 21/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/04/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 02 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 339/2017/TLST - HNGĐ, ngày 14/11/2017 về tranh chấp ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXXST - HNGĐ, ngày 23/02/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1983 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1981 (vắng mặt không lý do).

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn ngày 12/9/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày: Chị và anh Trần Văn H kết hôn do quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là xã T), huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 10/11/2005. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi, anh H ngược đãi chị, đến tháng 10/2009 thì sống ly thân, thời gian ly thân không có gặp gỡ để hàn gắn. Nay chị xin ly hôn với anh H. Trong quá trình chung sống anh chị không có con chung, tài sản chung và nợ chung.

Bị đơn anh Trần Văn H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Chị Nguyễn Thị Mỹ H có yêu cầu xin xét xử vắng mặt, anh Trần Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh H.

[2] Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Trần Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn  tại  Ủy ban  nhân dân xã Đ  (nay là xã T), huyện M, tỉnh Bến Tre  ngày 10/11/2005. Do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn theo chị H trình bày thì anh chị sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi, anh H ngược đãi chị nên đến tháng 10/2009 thì sống ly thân cho đến nay, đến ngày 12/9/2017 thì chị H làm đơn xin ly hôn với anh H. Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của chị H và anh H chỉ tồn tại trong thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến anh chị sống ly thân, thời gian ly thân anh chị cũng không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh H đến Tòa án để tham gia hòa giải quan hệ hôn nhân với chị H, mục đích để anh chị hàn gắn nhưng anh H không đến Tòa án để tham gia hòa giải, điều đó chứng tỏ anh H có ý thức bỏ mặc, không muốn hàn gắn tình cảm với chị H. Do đó có căn cứ để xác định mâu thuẫn tình cảm vợ chồng chị H, anh H là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2] Về con chung, tài sản chung và nợ chung chị H trình bày không có, đối với anh H trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng không có ý kiến gì về các vấn đề nêu trên nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xác định anh chị có con chung, tài sản chung và nợ chung không nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp thì có quyền yêu cầu giải quyết ở vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

[3] Về nghĩa vụ nộp án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ H. Chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với anh Trần Văn H.

[2] Về nuôi con chung: Chị H trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

[4] Về nghĩa vụ nộp án phí:

Án phí ly hôn chị Nguyễn Thị Mỹ H phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 000xxxx ngày 14/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre nên không còn phải nộp thêm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2018/HNGĐ-ST ngày 02/04/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:21/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Bắc - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về