Bản án 21/2019/DSST ngày 11/10/2019 về tranh chấp nợ hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 21/2019/DSST NGÀY 11/10/2019 VỀ TRANH CHẤP NỢ HỤI

Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại Phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 37/2019/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2019, về việc: “Tranh chấp nợ hụi” theo Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/QĐST-HPT ngày 27/9/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Kim S, sinh năm: 1967.

Địa chỉ: Tổ 34, thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Ông Võ C, sinh năm: 1956 và bà Võ Thị Kim X, sinh năm: 1956.

Cùng địa chỉ: Tổ 6, thôn X, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người làm chứng:

1. Bà Lê Thị B, sinh năm: 1958.

Địa chỉ: Khu chợ S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

2. Bà Vũ Thị Kim P, sinh năm: 1971.

Địa chỉ: Tổ 46, thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

3. Bà Phạm Nguyễn Thu G, sinh năm: 1964.

Địa chỉ: Tổ 10, thôn X, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

4. Vũ Thị T, sinh năm: 1960.

Địa chỉ: Tổ 19, thôn X, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Bà S, bà P có mặt; ông C, bà X, bà G, bà T, bà B vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, các văn bản làm việc tại Toà án, nguyên đơn bà Trương Thị Kim S trình bày:

Vào năm 2016 bà Trương Thị Kim S có chơi hụi gồm 02 chân hụi do bà Võ Thị Kim X là vợ ông Võ C làm chủ hụi. Gồm:

Dây thứ 1: Ngày 22/7/2016 âm lịch đến ngày 23/8/2017 âm lịch có 20 người tham gia chơi hụi, 01 tháng đóng là 6.000.000đ. Phần bà S đóng 15 tháng x 6.000.000 đồng/tháng = 90.000.000 đồng. Từ 22/7//2016 đến 23/8/2017 là 15 tháng. Trung bình thực tế mỗi tháng đóng là 5.500.000đ, bà S đóng 15 tháng thành là 82.500.000đ.

Dây thứ 2: Ngày 12/12/2016 âm lịch đến ngày 23/8/2017 âm lịch, có 13 người tham gia, mỗi tháng đóng 3.000.000đ. Phần bà S đóng 10 tháng x 3.000.000 đồng/tháng = 30.000.000 đồng (Ba mượi triệu đồng). Trung bình thực tế mỗi tháng đóng là 2.700.000đ, bà S đóng 10 tháng thành là 27.000.000đ.

Nếu tính cả tiền lời thì bà S tính là 120.000.000đ. Nhưng tiền thực tế đóng mỗi tháng như nêu trên thì tổng số tiền bà S đóng cho bà X của cả 02 dây hụi là 109.500.000đ. Năm 2017 có 02 tháng 6 âm lịch.

Việc chơi hụi chỉ nói miệng, bà X không ghi giấy tờ gì cho bà S. Tháng 8/2017 âm lịch bà X nói đi chữa bệnh ở thành phố Hồ Chí Minh mang theo tiền nộp hụi hàng ngày mà không giao trả lại cho hụi viên. Việc chơi hụi này thì ông C là người biết rõ vì hàng ngày ông C chở bà X đi thu tiền của hụi viên. Khi bà X bỏ đi thì chúng tôi - những người hụi viên đến nhà ông C yêu cầu giải quyết thì ông C xác nhận và cam kết đứng ra chịu trách nhiệm trả nợ cho hụi viên.

Ông C có đến Công an xã X làm cam kết và hứa trước hụi viên sẽ có trách nhiệm trả nợ.

Nay bà S yêu cầu ông Võ C và bà X phải trả cho bà S số tiền thực tế đã đóng hụi là 109.500.000 đồng (Một trăm lẻ chín triệu năm trăm ngàn đồng), tiền lãi suất là 10%/năm đối với số tiền gốc trên kể từ thời gian bà X bỏ đi từ ngày 13/10/2017 cho đến ngày 01/7/2019 là 109.500.000 đồng x 1 năm 09 tháng (21 tháng) x 10%/năm = 19.162.500đ.

Ông Võ C, bà Võ Thị Kim X không đến tòa án để làm việc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án bà S kiện yêu cầu bà X, ông C trả cho bà S tiền nợ hụi và tiền lãi. Yêu cầu của bà S là có cơ sở và phù hợp nên Tòa án cần xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Trương Thị Kim S yêu cầu ông Võ C và bà Võ Thị Kim X phải trả cho bà S số tiền hụi bà S đã đóng cho bà X và tiền lãi đây là tranh chấp nợ hụi theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2015.

Nơi cư trú của ông C, bà X là tổ 6, thôn X, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng của bà Võ Thị Kim X: Ban đầu bà S khởi kiện ông C nên ông C là bị đơn, bà X là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Sau này bà S thay đổi bổ sung khởi kiện cả bà X và ông C. Do đó xác định bà X và ông C cùng là bị đơn.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng bà X, ông C vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bà X, ông C là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Theo bà S xác định: Tháng 8/2017 âm lịch bà X nói đi chữa bệnh ở thành phố Hồ Chí Minh mang theo tiền nộp hụi hàng ngày mà không giao trả lại cho hụi viên. Theo quy định tại Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015, thì vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện.

Về nội dung tranh chấp:

Bà S yêu cầu ông Võ C và bà Võ Thị Kim X phải trả cho bà S số tiền hụi thực tế đã đóng của 02 dây hụi là 109.500.000đ; tiền lãi suất là 10%/năm đối với số tiền gốc trên kể từ thời gian bà X bỏ đi từ ngày 13/10/2017 cho đến ngày 01/7/2019 là 109.500.000 đồng x 1 năm 09 tháng (21 tháng) x 10%/năm = 19.162.500đ.

Xét yêu cầu của bà S thấy:

Theo lời trình bày thì bà S có chơi hụi với bà X, chơi 02 dây hụi, số tiền thực tế bà S đã đóng cho bà X là 109.500.000 đồng.

Theo những người làm chứng là những người có chơi hụi với bà X thì những người này có biết việc bà S chơi hụi với bà X. Việc chơi hụi không phải là tập trung họp mặt tất cả các hụi viên lại, hụi viên cũng không biết hết những người cùng chơi hụi với mình mà bà X thông báo cho hụi viên rồi hụi viên đóng tiền cho bà X, bà X nhận tiền rồi giao tiền cho người hốt hụi. Bà X không làm giấy ghi nhận việc đóng tiền của hụi viên.

Theo bà S quá trình chơi hụi thì ông C là người biết rõ vì hàng ngày ông C chở bà X đi thu tiền của hụi viên. Khi bà X bỏ đi ông C có đến Công an xã X làm cam kết và hứa trước hụi viên sẽ có trách nhiệm trả nợ.

Tại biên bản hòa giải ngày 17/01/2019 trong vụ án Dân sự thụ lý số 118/2017/TLST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2017, về: “Tranh chấp nợ hụi”, giữa nguyên đơn bà Lê Thị B với bị đơn bà Võ Thị Kim X, ông Võ C, bị đơn ông Võ C trình bày:

Ông Võ C là chồng của bà Võ Thị Kim X. Ông C hoàn toàn không biết gì về việc bà X chơi hụi với bà B. Ông C có ký tên vào giấy cam kết là do lúc đó ông C bị áp lực của người dân, đồng thời lúc đó ông C hoảng sợ và huyết áp xuống nên ông C xỉu, ông C có nhờ công an mua thuốc cho uống nên ông C ký tên trong lúc tinh thần bị hỗn loạn. Ông C không biết gì chuyện chơi hụi của bà X nên ông C không đồng ý trả tiền như bà B yêu cầu. Ông C có chở bà X đi lấy tiền hụi nhưng ông C không biết gì về việc chơi hụi. Ông C không đồng ý trả tiền như bà B yêu cầu.

Xét thấy khoảng thời gian những người chơi hụi đóng tiền cho bà X ở các dây hụi là phù hợp với thực tế khi bà X làm chủ hụi, cách chơi hụi và đóng tiền hụi ở các dây hụi là giống nhau. Do đó cần xem xét ý kiến trình bày của ông Võ C trước đây để giải quyết trong vụ án này.

Như vậy ông C là chồng của bà X và ông C có chở bà X đi thu tiền hụi do đó có cơ sở khẳng định ông C có biết việc bà X chơi hụi với bà S. Ông C và bà X là vợ chồng chung sống, làm ăn chung nên ông C phải cùng có trách nhiệm với bà X trong việc trả nợ hụi cho bà S.

Hiện nay bà X, ông C đi khỏi địa phương, Tòa án không làm việc được với bà X, ông C. Tuy nhiên qua trình bày của bà S, lời trình bày của ông C trước đây và lời khai của những người làm chứng thì việc bà S có đóng tiền hụi cho bà X là có cơ sở và hiện nay bà X còn nợ tiền hụi của bà S. Số tiền thực tế bà S đóng cho bà X của 02 dây hụi theo kê khai của Sinh là: 109.500.000đ.

Từ những tình tiết và nhận định trên thì việc bà S yêu cầu ông C, bà X trả cho bà S số tiền hụi 109.500.000đ là có cơ sở.

Về tiền lãi bà S yêu cầu bà X, ông C trả mức lãi 10%/năm đối với số tiền gốc trên kể từ thời gian bà X bỏ đi từ ngày 13/10/2017 cho đến ngày 01/7/2019 là 109.500.000 đồng x 1 năm 09 tháng (21 tháng) x 10%/năm = 19.162.500đ.

Mức lãi mà bà S yêu cầu là phù hợp nên cần chấp nhận.

Do đó căn cứ vào Điều 471 Bộ luật dân sự 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Kim S buộc bà Võ Thị Kim X và ông Võ C trả cho bà S số tiền nợ hụi 109.500.000đ và tiền lãi là 19.162.500đ, tổng cộng là 128.662.500đ.

Bà S đã rút lại phần yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại nên Tòa án đình chỉ giải quyết phần yêu cầu về bồi thường thiệt hại của bà S.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì ông C, bà X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (Sau đây viết tắt là DSST) có giá ngạch đối với số tiền phải trả cho bà S là 128.662.500đ x 5% = 6.433.125 đồng.

Hoàn trả cho bà Trương Thị Kim S 3.375.000 (Ba triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí mà bà S đã nộp theo biên lai số TU/2017/ 0009018 ngày 14/3/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Đức.

Về Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 10/2019/QĐ- BPKCTT ngày 10/9/2019 và Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 06/2019/QĐ-BPBĐ ngày 10/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức sẽ được xử lý sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 471, Điều 357 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi nợ hụi của bà Trương Thị Kim S đối với bà Võ Thị Kim X và ông Võ C.

Buộc bà Võ Thị Kim X và ông Võ C phải trả cho bà Trương Thị Kim S số tiền nợ hụi 109.500.000đ và tiền lãi là 19.162.500đ, tổng cộng là 128.662.500 (Một trăm hai mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm) đồng.

Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Ông Võ C và bà Võ Thị Kim X phải nộp số tiền án phí DSST có giá ngạch là 6.433.125 (Sáu triệu bốn trăm ba mươi ba ngàn một trăm hai mươi lăm) đồng để sung quỹ Nhà nước.

Hoàn trả cho bà Trương Thị Kim S 3.375.000 (Ba triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí mà bà S đã nộp theo biên lai số TU/2017/ 0009018 ngày 14/3/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Đức.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/10/2019), bà S có quyền kháng cáo; đối với ông C, bà X vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thì hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”;)


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2019/DSST ngày 11/10/2019 về tranh chấp nợ hụi

Số hiệu:21/2019/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Đức - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về