Bản án 21/2019/HNGĐ-ST ngày 22/02/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 21/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/02/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 22 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 804/ 2018/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 9 năm 2018 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Việt T – Sinh năm: 1981 (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: Số 299 Nguyễn Trãi, khóm A, phường B, thành phố Cà M, tỉnh Cà M.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N – Sinh năm 1981 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Số 328B Nguyễn Trãi khóm A, phường B thành phố Cà M, tỉnh Cà M.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 12/9/2018 và lời trình bày của anh Nguyễn Việt T tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân anh T chị N chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân Phường B, thành phố Cà M, tỉnh Cà M ngày 25/12/2001. Hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, mâu thuẫn kéo dài ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được năm 2010 anh chị không còn chung sống với nhau đến năm 2015 chị N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy hiện đang chấp hành án tại trại tạm giam An Phước huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương. Tại tòa anh T nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung của vợ chồng trầm trọng, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Huỳnh N.

Về con chung: Có 01 người tên Nguyễn Huỳnh Gia K– sinh ngày 05/12/2004, hiện đang sống chung với anh. Khi ly hôn anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Chị Nguyễn Thị Huỳnh N tại tòa hôm nay vắng mặt, tại biên bản lấy lời khai ngày 11/01/2019 chị N trình bày:

Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như anh T trình bày. Hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm chị Như cho là do không hợp nhau. Nay anh T yêu cầu ly hôn chị N vẫn đồng ý.

Về con chung: Có 01 người tên Nguyễn Huỳnh Gia K – sinh ngày 05/12/2004. Chị tôn trọng ý kiến nguyện vọng của con. Muốn sống chung với ai người đó nuôi.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng.

Do hiện nay chị N đang chấp hành án tại huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương, cho nên chị không thể có mặt tại phiên tòa chị đề nghị tòa án giải quyết xét xử vắng mặt chị.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày quan điểm: Chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn cho anh T được ly hôn với chị N, về con chung giao cháu Nguyễn Huỳnh Gia K cho anh T tiếp tục nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét. Án phí đương sự nộp theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Quan hệ pháp luật giữa nguyên, bị đơn đặt ra được xác định là quan hệ về hôn nhân và gia đình yêu cầu xin ly hôn và nuôi con sau khi ly hôn. Căn cứ Điều 28, Điều 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự. Điều luật được áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[1] Về hôn nhân: Anh T chị N chung sống năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân Phường B, thành phố Cà M, tỉnh Cà M nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận bảo vệ. Tại toà hôm nay, anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn.

Đối với chị N tại tòa hôm nay vắng mặt, tại biên bản lấy lời khai chị cho là vợ chồng không hợp nhau có nhiều mâu thuẫn, anh Thắng yêu cầu ly hôn chị N vẫn đồng ý ly hôn. Xét mâu thuẫn thực tế của anh, chị là có xảy ra, anh chị đã tự chấm dứt mối quan hệ vợ chồng từ năm 2010 đến nay. Vợ chồng cũng không có điều kiện gặp nhau để tìm giải pháp hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Vì mâu thuẫn của anh, chị đã trầm trọng. Mặc khác anh, chị cũng không quan tâm lẫn nhau tình nghĩa vợ chồng không có, xét thấy có căn cứ cho anh, chị được ly hôn là phù hợp.

[2] Về con chung: Có 01 người tên Nguyễn Huỳnh Gia K – sinh ngày 05/12/2004. Anh T xác định đang sống chung với anh T và yêu cầu được tiếp tục nuôi. Ý kiến chị N tôn trọng ý kiến nguyện vọng của con. Muốn sống chung với ai người đó nuôi. Do cháu K trên 07 tuổi nên ngày 18/01/2019 tòa án có tiến hành ghi ý kiến nguyện vọng của cháu K thống nhất tiếp tục chung sống với anh T. Vì vậy tiếp tục giao anh T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh T không yêu cầu nên không xem xét.

[3]Về tài sản chung: Không có.

[4]Về nợ chung: Anh, chị xác định không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình: các đương sự phải nộp theo qui định.

Do chị Như đang chấp hành án không thể tham gia phiên tòa. Chị N cũng đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử vắng mặt chị N, việc xét xử vắng mặt chị N không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chị. Theo qui định pháp luật, chị N có quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 28, Điều 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1/ Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Việt T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Huỳnh N.

2/ Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia K – sinh ngày 05/12/2004, hiện đang sống chung với anh T, ý kiến nguyện vọng của cháu Khang sống chung với cha là anh Nguyễn Việt T. Tuyên xử giao cháu Nguyễn Huỳnh Gia K cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Huỳnh N được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung: Không có.

4/ Về nợ chung: Anh, chị xác định không có và không ai nợ anh, chị.

5/ Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ anh Thắng nộp, ngày 13 tháng 9 năm 2018 anh T đã dự nộp 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà M (Lai số 0001339) được giữ y chuyển thu sung quỹ nhà nước.

Anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Huỳnh N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2019/HNGĐ-ST ngày 22/02/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:21/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về