Bản án 21/2019/HSST ngày 08/04/2019 về tội tàng trữ hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 21/2019/HSST NGÀY 08/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Ngày 08 tháng 04 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2019/HSST ngày 06 tháng 03 năm 2019 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Thị Tr. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nữ. Sinh năm 1993.

- Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn 8, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Giang;

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12;

- Họ và tên bố: Nguyễn Hữu H , sinh năm 1960; Họ và tên mẹ: Dương Thị T, sinh năm 1959 ở thôn 8, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Giang;

- Gia đình có 04 chị em, bản thân là thứ 4;

- Họ và tên chồng: Lê Đăng Q, sinh năm 1990 (đã ly hôn)

- Bị cáo chưa có con

- Tiền án, tiền sự: Không có.

- Bị cáo bị bắt quả tang, không bị tạm giữ. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị caó đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Tô Quang S , sinh năm 1978;

Địa chỉ: Thôn 8, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Giang.( có mặt).

2. Bà Dương Thị T, sinh năm 1959.

Nơi ĐKHKTT: Thôn 8, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 17/11/2018, tại gia đình Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1993 trú tại thôn 8, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan CSĐT phối hợp với tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an Lạng Giang bắt quả tang đối với Nguyễn Thị Tr đang có hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ trên xe mô tô BKS 98D1 – 133.99 do Trang điều khiển.

Vật chứng thu giữ gồm (BL 21 – 22):

- Tại vị trí bục để chân trước xe mô tô BKS 98D1 - 13399 có 01 thùng bìa catton, bên trong có 08 vật hình trụ (nghi là pháo) có kích thước mỗi vật (14,5 x 14,5 x 15)cm, tổng khối lượng 11kg (mười một kilogam);

- Tại vị trí trong cốp dưới yên xe mô tô BKS 98D1 - 13399 có 01 túi nilong màu đen, bên trong có 01 vật hình trụ (nghi là pháo) có kích thước mỗi vật (14,5 x 14,5 x 15)cm, khối lượng 1,4kg (một phẩy tư kilogam );

- 01 xe mô tô BKS 98D1 – 133.99 ;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung bên trong có lắp 01 sim điện thoại.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Tr không phát hiện thu giữ gì.

Vật chứng thu giữ được nghi là pháo nổ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang đã niêm phong gửi giám định. Tại kết luận giám định số 6477/C09-P2 ngày 20/11/2018 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “08(tám) vật hình khối hộp, vỏ ngoài bọc giấy màu, bên trong mỗi khối gồm 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau gửi đến giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 11kg (mười một kilôgam); 01(một) vật hình khối hộp, vỏ ngoài bọc giấy màu, bên trong mỗi khối gồm 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau gửi đến giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 1.4kg ( một phẩy tư kilôgam)” (BL 11).

Quá trình điêu tra, Nguyễn Thị Tr khai nhận:

Khoảng đầu tháng 11/2018, thông qua trang mạng Facebook, Tr sử dụng nick name “hapngonhonluoc” có quen một người tên là T (theo như Tr khai T là con trai khoảng 30 tuổi, nhà ở dốc 79, Hữu Lũng, Lạng Sơn) có nick name là “simsodep.hoahongden”. Quá trình nói chuyện, Tr biết T có thể mua được pháo nên Tr đã nhờ T mua hộ pháo mục đích để Tr đốt trong dịp sinh nhật của mình, T đồng ý và hẹn gặp Tr ở cây xăng An Hà, Lạng Giang. Khoảng 9 giờ sáng ngày 15/11/2018, tại cây xăng An Hà, Tr gặp và đưa cho T 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) để T mua pháo giúp, sau khi nhận tiền xong T hẹn Tr khoảng 9 giờ sáng ngày 17/11/2018 đi đến khu vực gần cây xăng An Hà nhận pháo. Khoảng 9 giờ sáng ngày 17/11/2018, Tr điều khiển xe mô tô BKS 98D-13399, của anh rể là Tô Văn S, sinh năm 1978 ở cùng thôn (Tr mượn trước đó mục đích để đi lại) đến khu cây xăng An Hà thì nhìn thấy bên lề đường 292 theo hướng An Hà đi Kép có 01 thùng bìa cát tông để ở gần cây xoan bên trên có 01 túi nilong màu đen. Thấy vậy, Tr đến gần mở túi nilong màu đen ra thì thấy có 01 bệ pháo và nghĩ đây là số pháo do T gửi cho Tr nên đã bê 01 thùng bìa cát tông bên trong chứa pháo để ở vị trí bục để chân trước xe mô tô và cho 01 túi nilong đựng pháo vào trong cốp xe mô tô rồi điều khiển xe đi về. Khi Tr vừa về đến nhà thì bị tổ Công tác của Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang, thu giữ toàn bô vật chứng như đã nêu trên.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 98D-133.99, Tr mượn anh S để đi lại việc cá nhân, anh S không biết Tr sử dụng vào việc đi mua pháo về đốt nên ngày 31/01/2019, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lạng Giang ra quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Tô Văn S 01 mô tô BKS 98D-133.99, anh S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Vật chứng còn lại gồm: 01 bao tải dứa và 01 túi ni long chứa pháo được niêm phong bằng dải niêm phong có các chữ ký, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung cũ, có Imei 359523061703797 bên trong có lắp sim, Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng và chuyển để giải quyết cùng vụ án

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị Trđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 22/CT-VKS-LG ngày 06/03/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ hàng cấm”, theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị Tr thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và trình bày: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Dương Thị T trình bày: bà có chứng kiến cơ quan công an kiểm tra số pháo mà Trang tàng trữ tại nhà bà, hiện nay Trang khỏe mạnh và không phải điều trị bệnh gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Tô Quang S trình bày: Anh có cho Tr mượn 01 xe mô tô BKS 98D-133.99, khi mượn Tr không nói để vận chuyển hàng cấm, hiện nay anh đã nhận lại xe và không yêu cầu Tr phải bồi thường gì.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;

Đề nghị HĐXX xử phạt Nguyễn Thị Tr từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tthời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Giao cho UBND xã B, huyện C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Phạt bổ sung Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao tải dứa và 01 túi ni long chứa pháo được niêm phong bằng dải niêm phong có các chữ ký

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung cũ, có Imei 359523061703797 bên trong có lắp sim, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Nội dung vụ án: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 17/11/2018, tại gia đình Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1993 trú tại thôn 8, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan CSĐT phối hợp với tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an Lạng Giang bắt quả tang đối với Nguyễn Thị Tr đang có hành vi tàng trữ trái phép 12.4 kg pháo nổ trên xe mô tô BKS 98D1 – 133.99 do Tr điều khiển, mục đích để sử dụng,lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Do đó có đầy đủ cơ sở để khẳng định Nguyễn Thị Tr phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS năm 2015. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi một cách liều lĩnh, xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về kinh tế và hành chính. Do đó, phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Quá trình điều tra, truy tố bị can Trang thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có mẹ được tặng bằng khen, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ, quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xét bị cáo Nguyễn Thị Tr có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Hiện tại, có nơi ở rõ ràng, từ trước đến nay bị cáo chưa vi phạm pháp luật lần nào, bị cáo là người có nhân thân tốt, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Vì vậy, căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết bắt bị cáo Tr phải cách ly xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát và giáo dục cũng đủ để giáo dục bị cáo thành người tốt sau này, như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, không có khoản thu nhập nào khác nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 98D-133.99, Tr mượn anh S để đi lại việc cá nhân, anh S không biết Tr sử dụng vào việc đi mua pháo về đốt nên ngày 31/01/2019, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lạng Giang ra quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Tô Văn S 01 mô tô BKS 98D-133.99, anh S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với các đối tượng đã bán pháo, Tra khai tên là T (theo như Tr khai T là con trai khoảng 30 tuổi, nhà ở dốc 79, Hữu Lũng, Lạng Sơn) có nick name là “simsodep.hoahongden ) ngoài ra không có thông tin nào khác, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang không có căn cứ xác minh, điều tra xử lý, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5].Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao tải dứa và 01 túi ni lông chứa pháo được niêm phong bằng dải niêm phong có các chữ ký.

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung cũ, có Imei 359523061703797 bên trong có lắp sim, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[6]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1].Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Trang phạm tội " Tàng trữ hàng cấm".

Áp dụng điểm c điểm 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2].Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tr 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/4/2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Tr cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

[3].Về vật chứng: Áp dụng điểm c, khoản 1điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao tải dứa và 01 túi ni lông chứa pháo được niêm phong bằng dải niêm phong có các chữ ký.

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung cũ, có Imei 359523061703797 bên trong có lắp sim, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[4]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị Tr phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm

[5].Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


34
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về