Bản án 214/2018/HNGĐ-ST ngày 20/09/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 214/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/09/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 20 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2018/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2018 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2018/QĐXX-ST ngày 14 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Bùi Văn C - Sinh năm 1987. Địa chỉ: Xóm C, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình: Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Vì Thị O - Sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.

Hiện đang chữa trị cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số V, xã Y, huyện B, thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 19 tháng 6 năm 2018 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Bùi Văn C trình bày:

Anh và chị Vì Thị O kết hôn với nhau vào ngày 04/5/2012. Khi kết hôn hai anh chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.

Sau khi kết hôn hai anh chị về ở chung với bố mẹ chị O. Cuộc sống chung vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về lối sống. Mâu thuẫn của hai anh chị đã được gia đình khuyên giải nhưng không đạt kết quả, hai anh chị đã sống ly thân từ năm 2012. Đến tháng 01 năm 2018 chị O bị đưa đi chữa trị cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số V, xã Y, huyện B, thành phố H.

Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh C viết đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vì Thị O.

Về con chung: Có một cháu Bùi Sơn B – Sinh ngày 17/11/2012. Trường hợp ly hôn, anh C xin được nuôi con và không yêu cầu chị O đóng tiền cấp dưỡng nuôi con cùng anh.

Về tài sản chung: Không có.

Về vay nợ chung: Không có.

Bị đơn chị Vì Thị O trình bày:

Chị hoàn toàn nhất trí với phần trình bày của anh Bùi Văn C về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Nay anh Bùi Văn C xin ly hôn với chị, chị Oan nhất trí.

Về con chung: Nếu ly hôn chị xin được nuôi cháu Bùi Sơn B – Sinh ngày 17/11/2012. Chị không yêu cầu anh C đóng tiền cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản chung: Không có gì.

Về vay nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần như trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử cho anh Bùi Văn C và chị Vì Thị O được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Sơn B – Sinh ngày 17/11/2012 cho anh Bùi Văn C trực tiếp chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Do anh C không yêu cầu đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nên không đề cập việc giải quyết.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

4. Về án phí: Anh Bùi Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Vì Thị O đang chữa trị cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số V, xã Y, huyện B, thành phố H nên không thể có mặt tại Tòa án để tham gia, xét xử vụ án, chị Vì Thị O. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn C và chị Vì Thị O có đăng ký kết hôn ngày 04/5/2012 tại UBND xã C, huyện M.Việc kết hôn của hai anh chị đã tuân thủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình, do đó được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn, tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về lối sống sự việc, đã được gia đình khuyên ngăn, hòa giải nhưng không đạt kết quả, chị O và anh C đã ly thân với nhau từ năm 2012 Đến tháng 01 năm 2018 chị O bị đưa đi chữa trị cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số V, xã Y, huyện B, thành phố H.

Nay anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh xin được ly hôn với chị O, chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị cũng nhất trí ly hôn với anh Cư.

Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng anh, chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Bùi Văn C và xử cho anh Bùi Văn C được ly hôn với chị Vì Thị O.

[3] Về con chung: Cả hai anh chị đều xác định có một con chung là cháu Bùi Sơn B – Sinh ngày 17/11/2012. Cả hai anh chị đều có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu Bùi Sơn B sau khi ly hôn.

Tuy nhiên hiện nay chị O đang đi chữa trị cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số V, xã Y, huyện B, thành phố H việc giao con chung cho chị O nuôi dưỡng là không đảm bảo cho sự phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần của cháu.

Căn cứ các điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình cần giao cháu Bùi Sơn B – Sinh ngày 17/11/2012 cho anh Bùi Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu trưởng thành.

Về đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Do anh Bùi Văn C không yêu cầu chị O góp tiền cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, nên không đề cập việc giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung các bên đương sự đều xác định không có tài sản chung, không có vay nợ chung nên không đề cập việc giải quyết.

[5] Về án phí: Anh Bùi Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử cho anh Bùi Văn C và chị Vì Thị O được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Sơn B – Sinh ngày 17/11/2012 cho anh Bùi Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

3. Về án phí:

Anh Bùi Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000605 ngày 19/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


68
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 214/2018/HNGĐ-ST ngày 20/09/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:214/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộc Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 20/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về