Bản án 214/2019/HNGĐ-ST ngày 04/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 214/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/11/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 04 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 539/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 194/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T; địa chỉ: Thôn 1, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng M; địa chỉ: Khu Q, thị trấn M, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 10/12/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đỗ Thị T (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị T và anh Nguyễn Hoàng M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 05 tháng 01 năm 1998. Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong công việc làm ăn kinh tế, nuôi dạy con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không thành. Do mâu thuẫn Chị T và anh M đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh Nguyễn Hoàng M.

Về con chung: Chị Đỗ Thị T khai: Chị và anh Nguyễn Hoàng M có 03 con chung là Nguyễn Thị Minh Gi, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1999, Nguyễn Thị Thu B, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2000 và Nguyễn Thị Nhật Ph, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2015. Hiện chị T đang nuôi con Nguyễn Thị Nhật Ph. Trường hợp ly hôn, chị T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con Nguyễn Thị Nhật Ph. Con chung là Nguyễn Thị Minh Gi và Nguyễn Thị Thu B hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đỗ Thị T trình bày chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị T khai: Chị và anh Nguyễn Hoàng M không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 06 tháng 9 năm 2019, anh Nguyễn Hoàng M (bị đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hoàng M thừa nhận lời khai của chị T về thời gian, điều kiện, hình thức kết hôn, nguyên nhân và tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Nay chị T xin ly hôn, quan điểm của anh M nhận thấy không còn tình cảm với chị T nên anh M đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh Nguyễn Hoàng M khai anh và chị Đỗ Thị T có 03 con là Nguyễn Thị Minh Gi, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1999, Nguyễn Thị Thu B, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2000 và Nguyễn Thị Nhật Ph, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2015. Trường hợp ly hôn, chị T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con Nguyễn Thị Nhật Ph, anh M đồng ý. Con chung là Nguyễn Thị Minh Gi và Nguyễn Thị Thu B hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Hoàng M khai anh và chị T tự thỏa thuận với nhau nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Hoàng M khai: Anh và chị T không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu điều tra thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị T và anh Nguyễn Hoàng M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T và anh M được ly hôn. Về con chung: Chị Đỗ Thị T và anh Nguyễn Hoàng M có 03 con chung tên Nguyễn Thị Minh Giang, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1999, Nguyễn Thị Thu Bình, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2000 và Nguyễn Thị Nhật Phượng, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2015. Căn cứ tài liệu điều tra xác minh hiện trạng nuôi con, khả năng, điều kiện nuôi con của mỗi bên và căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Tòa án giao cho chị Đỗ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Nhật Phượng cho đến khi con Nguyễn Thị Nhật Phượng đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Con chung là Nguyễn Thị Minh Giang và Nguyễn Thị Thu Bình hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Đỗ Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Nguyễn Hoàng M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh M vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Đỗ Thị T và anh Nguyễn Hoàng M.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị T và anh Nguyễn Hoàng M được xác lập năm 1998 là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong lao động, trong sinh hoạt dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không thành. Do mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay. Chị T xin ly hôn, anh M nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau nên cũng đồng ý ly hôn. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho chị T và anh M được ly hôn.

[3] Về con chung: Chị Đỗ Thị T và anh Nguyễn Hoàng M có 03 con chung tên Nguyễn Thị Minh Gi, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1999, Nguyễn Thị Thu Bì, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2000 và Nguyễn Thị Nhật Ph, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2015. Hiện chị T đang nuôi con Nguyễn Thị Nhật Ph. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con Nguyễn Thị Nhật Ph, anh M cũng đồng ý để chị T được nuôi con Nguyễn Thị Nhật Ph. Tuy nhiên, việc giao con chung cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, từ khi sống ly thân đến nay, chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Thị Nhật Phượng và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt. Vì vậy giao cho chị Đỗ Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Thị Nhật Phượng cho đến khi con Nguyễn Thị Nhật Ph đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật. Con chung là Nguyễn Thị Minh Gi và Nguyễn Thị Thu B hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đỗ Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[5] Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị T và anh Nguyễn Hoàng M thống nhất khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Đỗ Thị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị T và anh Nguyễn Hoàng M.

2. Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Nhật Ph, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2015 cho đến khi con Nguyễn Thị Nhật Ph đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002745 ngày 16 tháng 7 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, chị Đỗ Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Chị Đỗ Thị T, anh Nguyễn Hoàng M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 214/2019/HNGĐ-ST ngày 04/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:214/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về