Bản án 215/2019/HS-ST ngày 02/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 215/2019/HS-ST NGÀY 02/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

 Ngày 02 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 222/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2019/HSST-QĐ ngày 22 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Hoàng Ph, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số 45/18 khu phố Th L 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Hoàng T (đã chết) và bà Trần Thị Th, sinh năm 1975; bị cáo 01 em ruột, sinh năm 2002; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 27/01/2016, bị Tòa án nhân dân quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 01/02/2018; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/4/2019 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị Th, sinh năm 1975; thường trú: Số 45/18 khu phố Th L 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến:

1. Chị Lê Thị Phương H, sinh ngày 23/6/2001; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Thắng L, sinh năm 1995; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng Ph là người nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 22/4/2019, Lê Hoàng Ph điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki biển xin số phía sau chở chị Lê Thị Phương H đi ăn sáng. Khi đi, Ph có đưa cho H một gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có 01 gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 01 nỏ thủy tinh kêu H cầm dùm, nhưng không nói cho H biết bên trong có ma túy. Khi đi đến khu vực trước nhà nghỉ “Phương Thảo” thuộc khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương tuần tra phát hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện chị Lê Thị Phương H đang cầm gói thuốc lá hiệu Jet, kiểm tra bên trong có 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 nỏ thủy tinh, Ph khai nhận là ma túy của mình và nhờ H cầm dùm nên Công an tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Sau đó, Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An khám xét nhà của Ph tại địa chỉ số 45/18 khu phố Th L 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thu giữ thêm 01 gói nilon hàn kín và 01 túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng dưới tấm nệm trong phòng, Ph khai nhận số ma túy là mình mua của một đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực nhà sách thuộc phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương với mục đích mua để sử dụng.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) vỏ hiệu thuốc lá hiệu Jet bên trong có 01 nỏ thủy tinh, 01 (một) gói nilon chứa tinh thể màu trắng và 02 (hai) gói nilon hàn kín, 01 (một) túi nilon miệng kéo dính đều chứa tinh thể màu trắng.

Căn cứ Kết luận giám định số 334/MT-PC09 ngày 26/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng /trọng lượng 0,3119 loại Methamphetamine.

Căn cứ Kết luận giám định số 335/MT-PC09 ngày 26/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng /trọng lượng 0,1274 gam (M1); 0,0608 gam (M2); 0,9057 gam (M3), loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì các Kết luận giám định số 334/MT-PC09 và số 335/MT-PC09 ngày 26/4/2019 ngày 26/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Đối với chị Lê Thị Phương H không biết Ph bỏ ma túy trong gói thuốc lá hiệu Jet mà Ph đưa cho H cầm dùm. Tuy nhiên, H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng theo điểm a khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/CP của Chính Phủ và thông báo về địa phương nơi Hồng cư trú để quản lý.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Hoàng Ph tại khu vực nhà sách thuộc phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Suzukia biển xin số, có số máy: 519861, số khung:119881 do Lê Hoàng Ph mượn của mẹ ruột tên Trần Thị Th, việc Ph làm phương tiện đi mua ma túy bà Th không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã trả lại xe trên cho bà Th.

Cáo trạng số 243/CT-VKS-DA ngày 09 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Hoàng Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Hoàng Phúc từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

*Về xử lý vật chứng:

- Đối 02 (hai) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng, là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng sau giám định 0,2274 gam; 0,0904 gam (M1); 0,0255 gam (M2); 0,8221 gam (M3) và 01 (một) nỏ thủy tinh là vật cấm lưu thông và công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 22/4/2019, trước nhà nghỉ “Ph Th” thuộc khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, lực lượng tuần tra Công an phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thấy Lê Hoàng Ph chở chị Lê Thị Phương H có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính thì phát hiện trong gói thuốc lá hiệu Jet chị H đang cầm có 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 nỏ thủy tinh, Ph khai nhận là ma túy của mình và nhờ H cầm dùm nên Công an tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Sau đó, Cơ quan điều tra Công an thị xã D A khám xét nhà của Ph tại địa chỉ số 45/18 khu phố Th L 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thu giữ thêm 01 gói nilon hàn kín và 01 túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng dưới tấm nệm trong phòng, Ph khai nhận số ma túy là mình mua của một đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực nhà sách thuộc phường D A, thị xã D A, với mục đích mua để sử dụng.

Căn cứ Kết luận giám định số 334/MT-PC09 ngày 26/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng /trọng lượng 0,3119 loại Methamphetamine.

Căn cứ Kết luận giám định số 335/MT-PC09 ngày 26/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng /trọng lượng 0,1274 gam (M1); 0,0608 gam (M2); 0,9057 gam (M3), loại Methamphetamine.

[2] Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Lê Hoàng Ph tàng trữ ma túy có tổng khối lượng 1,4058 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Cáo trạng số 243CT-VKS-DA ngày 09 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Hoàng Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm  2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để có ma túy sử dụng mà bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội Cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới do cố ý nên bị cáo phải chịu tìh tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện bị cáo có 01 tiền án về tội Cướp giật tài sản và người nghiện ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[7] Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ma túy là tiền đề của các tội trộm cắp, cướp giật, giết người và nhiều tội phạm khác đồng thời bị cáo có tiền án án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới, cho thấy bị cáo là người xem thường pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[8] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Xét 02 (hai) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng, là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng sau giám định 0,2274 gam; 0,0904 gam (M1); 0,0255 gam (M2); 0,8221 gam (M3) và 01 (một) nỏ thủy tinh là vật cấm lưu thông và công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với Lê Thị Phương H không biết Ph bỏ ma túy trong gói thuốc lá hiệu Jet mà Ph đưa cho H cầm dùm. Tuy nhiên, H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng theo điểm a khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/CP của Chính Phủ và thông báo về địa phương nơi H cư trú để quản lý; đối  với người đàn ông bán ma túy cho Lê Hoàng Ph tại khu vực nhà sách thuộc phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau và đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Suzukia biển xin số, có số máy: 519861, số khung: 119881 do Lê Hoàng Ph mượn của mẹ ruột tên Trần Thị Th, việc Ph làm phương tiện đi mua ma túy bà Th không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương đã trả lại xe trên cho bà Th là đúng theo quy định của pháp luật.

[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[13] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Ph 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng, là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng sau giám định 0,2274 gam; 0,0904 gam (M1); 0,0255 gam (M2); 0,8221 gam (M3) và 01 (một) nỏ thủy tinh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/7/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Lê Hoàng Ph phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

 Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 215/2019/HS-ST ngày 02/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:215/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về