Bản án 216/2017/DS-PT ngày 18/12/2017 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 216/2017/DS-PT NGÀY 18/12/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

Ngày 18 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 267/2017/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2017/DS-ST ngày 29/09/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 299/2017/QĐPT-DS ngày 16 tháng 11 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1981 Địa chỉ: Ấp T1, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Phạm Minh D, sinh năm 1970 xã T1 Địa chỉ: Ấp T2, xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Anh Trần Văn H – Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn anh Trần Văn H trình bày: Ngày 07/11/2015 anh Phạm Minh D thuê anh làm phụ hồ để xây dựng nhà cho anh D được anh đồng ý, các bên thỏa thuận miệng, anh D trả tiền công lao động cho anh mỗi ngày bằng 200.000 đồng, sau khi thỏa thuận xong thì anh bắt đầu làm từ ngày 11/11/2015 đến ngày 19/11/2015, được 09 ngày với tổng số tiền 1.800.000 đồng, do bận công việc gia đình anh không làm nữa, sau đó anh yêu cầu anh D phải có nghĩa vụ thanh toán tiền công lao động cho anh nhưng anh D chỉ hứa hẹn không thanh toán, nên anh yêu cầu Ủy ban nhân dân xã T2 giải quyết nhưng tại phiên hòa giải anh D không thừa nhận có thuê anh làm công cho anh D. Do đó, anh yêu cầu anh D phải có nghĩa vụ trả cho anh số tiền công lao động bằng 1.800.000 đồng, ngoài ra anh không yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Phạm Minh D trình bày: Anh không có thuê anh H làm công xây nhà cho anh mà trên thực tế vào năm 2015 anh có thuê anh Nguyễn Văn Toản thầu xây dựng nhà cho anh, khi thuê giữa anh với anh Toản chỉ thỏa thuận miệng, thời gian xây dựng một tháng là hoàn thành toàn bộ công việc, tổng số tiền anh trả cho anh Toản là 20.000.000 đồng, trong quá trình làm do không kịp thời gian như đã thỏa thuận nên anh Toản có thuê anh Trần Văn H làm công cho anh Toản, còn số lượng ngày công lao động của anh H bao nhiêu anh không biết, trong quá trình làm anh Toản có tạm ứng nhiều lần với tổng số tiền 20.000.000 đồng, công việc chưa xong thì anh Toản không làm nữa nên sau đó anh phải thuê anh Cao Chí Linh tiếp tục làm cho anh đến khi toàn bộ căn nhà anh hoàn thành, hiện nay anh không còn nợ bất cứ khoản tiền nào của anh Toản. Do đó, nay anh xác định không có thuê anh H làm công xây dựng nhà cho anh nên không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của anh H với số tiền 1.800.000 đồng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/9/2017 anh Nguyễn Quốc Toản trình bày: Anh thừa nhận vào năm 2015 anh có hợp đồng làm nhà cho anh D, nhưng giữa các bên không thỏa thuận giá với nhau mà làm theo từng giai đoạn đến đâu tính tiền đến đó, trong thời gian làm nhà cho anh D, anh cũng lãnh thầu nhiều nhà khác dẫn đến việc xây dựng nhà cho anh D chậm tiến độ như thỏa thuận, nên anh D tự thuê anh Trần Văn H làm phụ hồ cùng làm với anh, mặt khác anh cũng thừa nhận không hoàn thành được toàn bộ căn nhà cho ông D như đã thỏa thuận.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/9/2017 anh Phạm Văn Hài trình bày: Năm 2015 anh Phạm Minh D có hợp đồng với ông Toản để xây dựng nhà, trong quá trình xây dựng do anh Toản không đủ nhân công dẫn đến chậm tiến độ nên anh Toản thuê anh Trần Văn H làm được một thời gian thì anh H và anh Toản không làm nữa nên anh D phải thuê người khác làm cho đến khi nhà anh D hoàn thành.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/9/2017 anh Cao Chí Linh trình bày: Khoảng năm 2015 giữa anh D với anh Toản có hợp đồng làm nhà, nhưng trong quá trình xây dựng do anh Toản không làm nữa nên anh D có thuê anh làm cho đến khi nhà anh D hoàn thành.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/9/2017 ông Lê Văn Tiểu (Hai Cua) trình bày: Vào năm 2015 anh Toản có hợp đồng miệng làm nhà cho anh D, thời gian đầu anh Toản và anh Phong trực tiếp làm, nhưng do không kịp thời gian như đã thỏa thuận giữa các bên nên anh Toản thuê ông làm và sau đó tiếp tục thuê anh Trần Văn H để làm phụ hồ, ông làm được một thời gian thì nghỉ và anh Toản cũng không hoàn thành toàn bộ căn nhà như thỏa thuận với anh D. Ông Tiểu xác định anh Toản là người trực tiếp thuê anh H chứ không phải anh D.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 72/2017/DS-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi quyết định:

Căn cứ vào Điều 513; Điều 519 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H về việc yêu cầu anh Phạm Minh D trả tiền công lao động 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 10/10/2017 anh Trần Văn H kháng cáo với nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh buộc anh Phạm Minh D trả cho anh số tiền 1.800.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Trần Văn H vẫn khẳng định anh Phạm Minh D là người thuê anh làm công, anh D còn thiếu anh tiền công nhưng không thanh toán. Anh H cho rằng việc anh D thuê anh làm công có sự chứng kiến của ông Lê Văn Tiểu.

Xét anh H khẳng định anh D là người thuê anh làm công nhưng anh H không có chứng cứ gì để chứng minh. Thực tế anh D có xây dựng nhà nhưng anh D hợp đồng thuê anh Toản, anh Toản trình bày do anh D thuê anh làm nhà nhưng do tiến độ làm chậm, để hoàn thành tiến độ nên anh D mới thuê anh H, anh không thuê anh H.

Theo kháng cáo của anh H trình bày sự việc diễn ra chỉ có anh Toản là người hiểu biết, còn nhân chứng như ông Lê Văn Tiểu (Hai cua) là do anh D tạo dựng nên nhưng đến phiên tòa phúc thẩm anh H nộp tờ tường thuật của ông Lê Văn Tiểu và Nguyễn Quốc Toản, nội dung tờ tường thuật của ông Tiểu thể hiện nền nhà của anh D là do anh D thuê ông Tiểu làm, khi ông Tiểu làm được hai ngày thì anh D cho rằng ông Tiểu làm thì anh Toản là người trả tiền, nên anh D thuê anh H làm. Trong khi đó anh Toản xác nhận nền nhà do anh D thuê anh làm, do anh làm chậm nên anh D thuê anh H làm tiếp. Xét chỉ có một nền nhà nhưng anh Toản cũng như ông Tiểu đều xác nhận do anh D hợp đồng với hai người. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm có xác minh người hiểu biết là ông Tiểu thì ông Tiểu trình bày anh Toản là người thuê anh H (BL 34). Từ khi phát sinh tranh chấp anh D đều khẳng định anh không thuê anh H mà do anh Toản thuê. Do đó, anh H yêu cầu anh D thanh toán tiền công, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của anh H là có căn cứ.

[3] Những quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết; có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Án phí phúc thẩm anh Trần Văn H được miễn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

 Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Văn H.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 72/2017/DS-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Căn cứ vào Điều 513; Điều 519 của Bộ luật Dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H về việc yêu cầu anh Phạm Minh D trả tiền công lao động 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng).

Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Văn H được miễn.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


86
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 216/2017/DS-PT ngày 18/12/2017 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

      Số hiệu:216/2017/DS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:18/12/2017
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về