Bản án 218/2019/HNGĐ-ST ngày 25/09/2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 218/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 593/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 350/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Hồ Thị H, sinh năm: 1990. (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Đông, xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: ông Huỳnh Văn Hồng K, sinh năm: 1983. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Nhơn Hiệp, xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Hồ Thị H trình bày: bà và ông K quen biết, tìm hiểu và kết hôn vào năm 2007, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Nhơn Mỹ ngày 27/10/2008. Thời gian chung sống đến tháng 3/2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông K có người phụ nữ khác, vợ chồng thường xuyên cự cãi, cuộc sống không hạnh phúc, bà và ông K không còn chung sống với nhau khoảng 01 năm nay. Nhận thấy tình cảm không còn, nay bà yêu cầu ly hôn với ông K.

- Về con chung: có 01 con chung tên Huỳnh Hồ Hữu H, sinh ngày 13/10/2008 hiện đang sống chung với ông K. Sau khi ly hôn, bà đồng ý để ông K được trực tiếp nuôi con chung, bà không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: chị H xác định không có nợ chung.

Bị đơn ông Huỳnh Văn Hồng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông K vắng mặt không rõ lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông K về nội dung đơn khởi kiện của bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Bà Hồ Thị H yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn Hồng K. Ông K có nơi cư trú tại ấp Nhơn Hiệp, xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn bà Hồ Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 26/7/2019 và bị đơn ông Huỳnh Văn Hồng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Hồ Thị H và ông Huỳnh Văn Hồng K xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cự cãi do tính tình không phù hợp, ông K có người phụ nữ khác, mâu thuẫn kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm và không còn chung sống với nhau khoảng 01 năm nay, bà H xác định không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, nếu tiếp tục chung sống với ông K thì không còn hạnh phúc.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông K cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà H cũng như không tham gia các phiên hòa giải, nên Tòa án đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông K là trầm trọng, ông K không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: có 01 con chung tên Huỳnh Hồ Hữu H, sinh ngày 13/10/2008 hiện đang sống chung với ông K. Sau khi ly hôn, bà H đồng ý để ông K tiếp tục nuôi con chung, bà không cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét về ý kiến đối với con chung của bà H thì thấy từ khi bà H và ông K không còn sống chung cho đến nay ông K vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, đảm bảo cho sự phát triển về thể chất và tâm sinh lý của cháu H. Mặt khác, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án không ghi nhận được ý kiến phản đối của ông K về việc tiếp tục nuôi cháu H, xét thấy việc chấp nhận ý kiến của bà H đồng ý cho ông K tiếp tục nuôi con chung là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu H cho ông K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con chung: do không ghi nhận được ý kiến của ông K nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

[7] Về tài sản chung: ghi nhận ý kiến của bà Hồ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.

[8] Về nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà Hồ Thị H trình bày không có nợ chung nên không đề cập giải quyết.

[9] Về án phí: bà Hồ Thị H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Các Điều 28, 35, 144, 147, 227, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Hồ Thị H được ly hôn với ông Huỳnh Văn Hồng K. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 251/KH, quyển số 01/08 ngày 27/10/2008 do UBND xã Nhơn Mỹ cấp không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: ông Huỳnh Văn Hồng K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Huỳnh Hồ Hữu H, sinh ngày 13/10/2008. Bà Hồ Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị H không trực tiếp nuôi con chung nhưng bà có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản chị H thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về tài sản chung: không xem xét, giải quyết.

- Về quan hệ nợ chung: ghi nhận bà Hồ Thị H xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Hồ Thị H và ông Huỳnh Văn Hồng K vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Hồ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0013270 ngày 03/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Chị H đã nộp xong.

Bà Hồ Thị H, ông Huỳnh Văn Hồng K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 218/2019/HNGĐ-ST ngày 25/09/2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:218/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lào Cai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về