Bản án 22/2016/DS-PT ngày 14/03/2016 về tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 22/2016/DS-PT NGÀY 14/03/2016 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở 

Ngày 04 tháng 3 năm 2016, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 84/2014/TL-DSPT ngày 29 tháng 12 năm 2014, do có kháng cáo của bị đơn đối với bản án dân sự sơ thẩm số 14/2014/DS-ST ngày 25, 26 tháng 3 năm 2014 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 481/2016/QĐ-PT ngày 26 tháng 02 năm 2016 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Lan, sinh năm 1965; trú tại: Số 12, ngõ 27, Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội; có mặt.

Bị đơn: Bà Vũ Thị Mai, sinh năm 1961; trú tại: Số 34, ngõ ngõ 27, Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Mai: Ông Lê Văn Khánh; trú tại: Số 4A, ngõ 481, Ngọc Lâm, phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Vũ Khắc Thái, sinh năm 1958; trú tại: Số 12, ngõ 27, Long Biên I, tổ 26, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội; có mặt.

2. Ông Vũ Khắc Chung, sinh năm 1967; trú tại: Số 12, ngõ 27, Long Biên I, tổ 26, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội; có mặt.

3. Bà Vũ Thị Tuyết, sinh năm 1963; trú tại: Số 6, ngõ 351, đường Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội; vắng mặt.

4. Bà Vũ Thị Liên, sinh năm 1965; trú tại: Số 21, phố Hàn Thuyên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; vắng mặt.

5. Bà Vũ Thị Dung, sinh năm 1969; trú tại 16C khu tập thể đường sắt, Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của các bà Vũ Thị Tuyết, Vũ Thị Liên và Vũ Thị Dung: Ông Lê Văn Khánh.

6. Anh Vũ Thành Đạt, sinh năm 1987.

7. Chị Vũ Thị Thanh Thủy, sinh năm 1993.

Cùng trú tại: Số 12, ngõ 27, Long Biên, phường Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội; có mặt.

8. Ông Phạm Hồng Lạc, sinh năm 1946; trú tại tổ 8, phường Cự Khối, Long Biên, Hà Nội; có mặt.

9. Anh Phạm Hồng Giang, sinh năm 1980.

Trú tại: Xóm Hồng Hà, xã Đồng Dư, huyện Gia Lâm, Hà Nội; có mặt.

10. Chị Phạm Thị Thu Hiền, sinh năm 1976.

11. Chị Phạm Thị Thanh Huyền, sinh năm 1978.

Cùng trú tại: Số 34, ngõ 27, tổ 26, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội; vắng mặt.

12. Anh Trần Ngọc Thành, sinh năm 1974.

13. Chị Nguyễn Thị Ánh Bình, sinh năm 1975.

Cùng trú tại: Số 12B, ngõ 27, phố Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội; có mặt.

14. Chị Hoàng Thị Phương, sinh năm 1971; có mặt.

15. Anh Vũ Thanh Tùng, sinh năm 1991.

16. Chị Hoàng Thị Thu Hà, sinh năm 1992.

17. Cháu Vũ Hoàng Phương Uyên, sinh năm 2001 (do anh Chung và chị Phương đại diện theo pháp luật).

Cùng trú tại: Số 12, ngõ 27, phố Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội; vắng mặt.

18. Ông Nguyễn Hồng Thắng, sinh năm 1963.

Nơi ĐKHKTT: 21 Hàn Thuyên, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Trú tại: 30 Hàn Thuyên, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; có mặt.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 15/4/2011 và các lời khai tại Tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Lan trình bày:

* Về quan hệ huyết thống:

Cụ Vũ Khắc Đạo (đã chết năm 2001) có vợ cụ Nguyễn Thị Tý (đã chết ngày 24/12/2010 âm lịch), hai cụ có 08 người con chung ngoài ra không có con riêng, con nuôi nào khác gồm:

1. Vũ Thị Đào (sinh năm 1954, đã chết năm 2007) có chồng là ông Phạm Hồng Lạc, có 03 con là Phạm Thị Thu Hiền, Phạm Thị Thanh Huyền, Phạm Hồng Giang.

2. Vũ Khắc Nguyên (sinh năm 1956, đã chết năm 2000) có vợ là Trần Thị Lan, có 02 con là Vũ Thành Đạt và Vũ Thị Thanh Thủy.

3. Vũ Khắc Thái sinh năm 1958.

4. Vũ Thị Mai, sinh năm 1961.

5. Vũ Thị Tuyết, sinh năm 1963.

6. Vũ Thị Liên, sinh năm 1965.

7. Vũ Khắc Chung, sinh năm 1967.

8. Vũ Thị Dung, sinh năm 1969.

* Về nguồn gốc nhà đất:

Lúc sinh thời cụ Đạo và cụ Tý có khối tài sản là 02 mảnh đất tại địa chỉ số 12 và số 34 ngõ 27 phố Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội được xác lập tại Quyết định số 959 ngày 10/12/1972 do UBND thị trấn Gia Lâm (nay là quận Long Biên) cấp cho ông Vũ Khắc Đạo gồm 2 mảnh: mảnh thứ nhất có diện tích 669m2, mảnh thứ hai có diện tích 203m2, tổng cộng 872,375m2 quy đổi là 2 sào 6 thước đất chưa kể nhà sân và số đất đầu nhà phía đông nam. Theo quyết định số 606UB ngày 09/8/1972 UBND thị trấn Gia Lâm đã thu hồi 6 thước đât để cấp cho dân chạy lũ lụt ngoài bãi chuyển về, còn lại cấp cho ông Đạo 2 sào chưa kể đất ở. Từ đó gia đình ăn ở ổn định trên các diện tích đất này.

Năm 1993 khi thành phố Hà Nội tiến hành đo đạc tổng thể diện tích đất trên địa bàn thành phố trong đó có thị trấn Gia Lâm, thì cụ Đạo, cụ Tý đã phân chia đất cho các con để sử dụng riêng biệt, không có giấy tờ nhưng được thể hiện, tại bản đồ đo đạc mốc giới của thị trấn Gia Lâm nay thuộc phường Ngọc Lâm quản lý:

1. Mảnh đất tại số 12 ngõ 27 phố Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội:

- Anh Vũ Khắc Nguyên được chia 251m2 tại thửa đất số 19.

- Anh Vũ Khắc Thái được chia 252m2 tại thửa đất số 18.

- Anh Vũ Khắc Chung được chia 271m2 tại thửa đất số 17.

- Diện tích 166m2 thuộc thửa đất số 20 còn lại cụ Đạo, cụ Tý quản lý sử dụng, sau đó đã bán cho vợ chồng con gái là Vũ Thị Liên và Nguyễn Hồng Thắng, đã được cấp GCN quyền sử dụng đất.

2. Mảnh đất tại số 34 ngõ 27 phố Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội:

- Chị Vũ Thị Mai được chia 65m2 tại thửa đất số 33.

- Chị Vũ Thị Dung được chia 64m2 tại thửa đất số 34.

- Chị Vũ Thị Tuyết được chia 61m2 tại thửa đất số 35.

- Chị Vũ Thị Đào được chia 169m2 tại thửa đất số 36.

- Chị Vũ Thị Liên được chia 53m2 tại thửa đất số 37 đã bán cho gia đình bà Đào và đứng tên chị Nguyễn Thị Thu Hiền là con gái bà Đào.

Sau khi chia đất cho các con, cụ Đạo và cụ Tý vẫn sống cùng với anh Vũ Khắc Chung trên diện tích đất anh được chia và cũng chính là căn nhà cấp 4 do hai cụ xây. Năm 2001 cụ Đạo chết thì cụ Tý vẫn tiếp tục sống cùng anh Chung.

Sau khi được chia đất, các con của cụ Đạo cụ Tý đã quản lý, sử dụng ổn định riêng biệt diện tích được chia và đóng thuế sử dụng đất hàng năm. Sau đó các cô con gái tự chuyển nhượng đất cho nhau, chị Liên và chị Tuyết bán cho chị Đào phần đất được bố mẹ chia cho; riêng chị Dung đã bán cho người khác phần diện tích chị được bố mẹ chia cho.

* Về việc tranh chấp 100m2 đất tại số 12, ngõ 27, Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội:

Chị Lan kết hôn với anh Vũ Khắc Nguyên năm 1987, sau khi kết hôn anh chị về chung sống cùng gia đình anh Nguyên tại số 12, ngõ 27, Long Biên I trên căn nhà cấp 4 cùng cụ Đạo cụ Tý. Sau khi cưới 3 tháng, hai cụ cho vợ chồng anh chị chuyển sang ở phần đất mà hai cụ chia cho anh tại số 34 ngõ 27 Long Biên I có diện tích 251m2 mà hiện nay mẹ con chị đang quản lý sử dụng. Đến năm 1993 khi UBND đo đạc nhà đất của dân và vẽ sơ đồ mốc giới nhà đất thì cụ Đạo, cụ Tý cũng tiến hành chia đất cho cả 8 người con và từ đó tất cả đã tự kê khai và đóng thuế sử dụng đất hàng năm đối với diện tích đất được chia. Anh Nguyên đã chết năm 2000, chị Lan cùng các con là Vũ Thành Đạt, Vũ Thị Thanh Thủy tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 251m2 tại thửa đất số 19 mà cụ Đạo, cụ Tý chia cho anh Nguyên từ năm 1993. Năm 2008 chị Lan có xây gian nhà cấp 4 gồm 07 phòng để cho thuê (có 1 gian ở tách riêng phía sau nhà 3 tầng do chị xây). Năm 2009 cụ Tý về sống tại 01 gian nhà cấp 4 do chị Lan đã xây dựng, chị Mai mượn cớ về chăm sóc mẹ cũng về sống tại 01 gian nhà nữa. Đến năm 2011 cụ Tý chết thì chị Vũ Thị Mai nói chị có di chúc của cụ Tý thể hiện cụ Tý chia cho chị Mai 100m2 trên có dãy nhà trọ do chị Lan xây dựng và từ đó đến nay chị Mai quản lý toàn bộ diện tích này.

Không đồng ý với di chúc của cụ Tý mà chị Mai xuất trình nên chị Lan đã khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất và sở hữu nhà đối với chị Mai. Cháu Vũ Thành Đạt và cháu Vũ Thị Thanh Thuỷ cũng nhất trí với chị Lan về việc khởi kiện đối với chị Mai và đồng ý để mẹ được toàn quyền quyết định việc kiện.

Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo, bị đơn chị Vũ Thị Mai trình bày:

* Về quan hệ huyết thống: Nhất trí như nguyên đơn trình bày.

* Về nguồn gốc nhà đất: Đất là của cụ Đạo được UBND thị trấn Gia Lâm (cũ) cấp theo Quyết định số 959 ngày 10/12/1972. Năm 1993 cụ Đạo và cụ Tý có tạm thời chia đất cho các con để sử dụng riêng biệt, ai sử dụng diện tích nào thì có trách nhiệm đóng thuế sử dụng đất hàng năm tại diện tích đất đó. Việc chia đất của cụ Đạo, cụ Tý có sự chứng kiến của UBND phường nhưng không có giấy tờ phân chia. Cụ Đạo, cụ Tý chỉ tạm thời chia đất cho các con chứ không có giấy tờ chia đất và cũng không có di chúc. Năm 2008 cụ Tý có làm thủ tục xin phép UBND phường Ngọc Lâm cho chị Lan được xây dựng dãy nhà trọ 07 phòng cấp 4 để cho thuê. Sau khi xây xong chị Lan có cho cụ Tý sử dụng 01 phòng trong dãy nhà trọ này. Do cụ Tý già yếu nên sau đó chị Mai có đến sống cùng và chăm sóc cụ tại gian nhà trọ này, sau đó sử dụng cả hai gian liền nhau cho rộng hơn. Năm 2009 cụ Tý có lập di chúc cho chị Mai được quản lý, sử dụng 100m2 trên có dãy nhà trọ 06 phòng. Năm 2011, cụ Tý chết thì chị Mai quản lý, sử dụng toàn bộ dãy nhà trọ 06 phòng này và thông báo cho chị Lan về di chúc của cụ Tý nhưng chị Lan không đồng ý. Chị Lan khởi kiện đòi lại diện tích 100m2 đất trên có dãy nhà trọ 06 phòng cấp 4 thì chị Mai không đồng ý vì nhà đất này cụ Tý đã làm di chúc cho chị thì chị được quyền sử dụng. Cụ Tý cho  riêng chị chứ không phải cho cả 4 chị em nên các chị Liên, Tuyết, Dung không có quyền được hưởng tại diện tích 100m2 đất này.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Cháu Vũ Thành Đạt, cháu Vũ Thị Thanh Thủy là con của chị Trần Thị Lan và anh Vũ Khắc Nguyên đồng ý để cho mẹ là chị Trần Thị Lan đại diện khởi kiện đối với chị Vũ Thị Mai và thống nhất không yêu cầu toà giải quyết chia quyền lợi riêng biệt của từng người mà để ba mẹ con tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án xem xét.

- Các anh Vũ Khắc Thái, Vũ Khắc Chung, Vũ Thị Liên, Vũ Thị Tuyết đều khắng định bố mẹ đã chia riêng biệt cho các con nên có quyền sử dụng định đoạt đối với mảnh đất mà mình được chia nên đều đã khai để làm GCNQSD đất và đóng thuế sử đụng đất hàng năm, có người đã bán lại cho người khác. Các anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết các phần đất đã được chia cho các con và đã sử dụng ổn định; không liên quan và không tranh chấp gì với chị Lan tại phần đất của anh Nguyên và chị Lan được chia.

- Chị Vũ Thị Dung cho rằng bố mẹ chỉ chia cho sử dụng tạm thời và phần của chị thì đến năm 1999 chị đã bán để chi tiêu cho cuộc sống của chị nhưng lúc đó là có sự đồng ý của cụ Đạo. Không yêu cầu toà án giải quyết gì về các phần đất đã được chia cho các con và đều đã sử dụng ổn định. Chị xác định không có quyền lợi gì, không có tranh chấp gì tại mảnh đất mà anh Nguyên và chị Lan được chia, hiện nay chị đang ở nhờ trên phần nhà đang có tranh chấp tại diện tích 100m2 nhưng chị xác định không có quyền lợi gì tại mảnh đất đang có tranh chấp nên chị sẽ chấp hành phán quyết của Tòa án.

- Anh Trần Ngọc Thành và chị Nguyễn Thị Ánh Bình trình bày: Năm 2005 anh chị mua 02 gian nhà cấp 4 trên diện tích 37m2 đất của anh Vũ Khắc Thái, giấy tờ mua bán viết tay có cụ Tý và chị Mai làm chứng. Sau khi mua anh chị sử dụng có đóng thuế sử dụng đất hàng năm, đến năm 2010 đã xây dựng mới thành nhà 3 tầng. Hiện nay đang xin cấp GCNQSDĐ ở, đã nộp đầy đủ các khoản tiền theo quy định và đang chờ được cấp CGNQSDĐ ở. Anh chị xin được vắng mặt tại toà.

- Anh Nguyễn Hồng Thắng, chị Vũ Thị Liên trình bày: Chị Liên được bố mẹ chia cho 53m2 đất tại 34 ngõ 27 Long Biên I, Phường Ngọc Lâm, Hà Nội nhưng chị Liên đã bán cho chị gái là Vũ Thị Đào. Ngoài ra vợ chồng anh chị có mua của cụ Đạo cụ Tý diện tích 166m2 đất (đằng sau nhà anh Nguyên, chị Lan, phía giáp hồ Tai Trâu) từ năm 1999 và từ năm 2011 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất mang tên vợ chồng anh chị. Nay anh chị xác nhận có việc bố mẹ đã chia đất cho các con từ năm 1993 và đã tự sử dụng, tự xây dụng và ăn ở ổn định không tranh chấp. Anh chị không có tranh chấp gì đối với diện tích đất 251m2 đã chia cho anh Nguyên. Anh Thắng và chị Liên xin được vắng mặt tại toà. Ngày 17/3/2014 chị Liên có giấy uỷ quyền cho ông Lê Văn Khánh đại diện cho chị tham gia tố tụng tại toà.

- Chị Hoàng Thị Phương, anh Vũ Thanh Tùng, chị Hoàng Thị Thu Hà, cháu Vũ Hoàng Phương Uyên (chị Phương và anh Chung đại diện cho cháu Uyên) trình bày: Xác định không có công sức và quyền lợi gì tại mảnh đất mà cụ Đạo và cụ Tý đã chia cho anh Nguyên và chị Lan.

- Văn phòng luật sư Lê Khánh do ông Lê Văn Khánh là đại diện theo pháp luật: Tại công văn số 17/PĐ-VPLS ngày 05/8/2013 gửi Tòa án có quan điểm: Di chúc do cụ Nguyễn Thị Tý tự lập ngày 1/11/2009 và mang đến văn phòng để xác nhận, lúc đó cụ Tý khoẻ mạnh minh mẫn, có giấy khám sức khoẻ do phòng khám đa khoa giao thông vận tải Gia Lâm cấp, sau khi nghe đọc lại đã trực tiếp ký vào bản di chúc có hai luật sư làm chứng là phù hợp pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 14/2014/DS-ST ngày 25, 26/3/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử:  

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Lan về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với chị Vũ Thị Mai.

2. Xác nhận diện tích đất 251m2 tại số 12 ngõ 27 phố Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội tọa lạc tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 330-4, tại sơ đồ thửa đất do UBND phường Ngọc Lâm quản lý là thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng anh Vũ Khắc Nguyên và chị Trần Thị Lan đã được cụ Vũ Khắc Đạo và cụ Nguyễn Thị Tý chia cho từ năm 1993, hiện nay mẹ con chị đang quản lý sử dụng (có bản vẽ sơ đồ thửa đất kèm theo).

Giao cho chị Trần Thị Lan và các con là Vũ Thành Đạt, Vũ Thị Thanh Thủy là những người kế thừa quyền lợi và nghĩa vụ của anh Vũ Khắc Nguyên được toàn quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất 251m2 tại số 12 ngõ 27 Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Lan, cháu Vũ Thành Đạt, cháu Vũ Thị Thanh Thủy xin để mẹ con được chia chung quyền lợi và sẽ tự giải quyết với nhau về quyền lợi đối với di sản anh Vũ Khắc Nguyên để lại.

3. Chị Trần Thị Lan được toàn quyền sở hữu giá trị nguyên vật liệu xây dựng trên đất gồm: nhà 03 tầng bêtông, phía sau có 1 phòng trọ, dãy nhà trọ 06 phòng, sân, lối đi... cụ thể:

- Phần nhà 3 tầng có giá trị xây dựng: 780.000.000 đồng.

- Phần sân trước nhà 3 tầng : 2.730.000 đồng

- Đường đi giữa nhà 3 tầng và dãy phòng trọ láng bê tông: 3.990.000đ.

- 01 phòng trọ sau nhà 3 tầng: 15.085.000 đồng

- 06 phòng trọ: 15.547.000 đồng + 16.743.000 đồng + 16.145.000 đồng + 16.488.000 đồng + 24.237.000 đồng + 13.713.000 đồng = 102.873.000 đồng.

Tổng giá trị là 901.948.000 đồng.

4. Không chấp nhận di chúc của cụ Nguyễn Thị Tý cho chị Vũ Thị Mai 100m2 đất tại số 12, ngõ 27, Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội do cụ Tý lập ngày 01/11/2009 tại Văn Phòng luật sư Lê Khánh.

5. Bác yêu cầu của chị Mai xin được sử dụng 100m2 đất trên có 6 phòng tại số 12 ngõ 27 Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội.

6. Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết chia lại các phần đất mà cụ Vũ Khắc Đạo và cụ Nguyễn Thị Tý đã chia cho các con là Vũ Thị Đào (hiện nay do ông Lạc và chị Hiền, chị Huyền, anh Giang đang quản lý sử dụng), Vũ Khắc Nguyên (hiện nạy do chị Lan và cháu Đạt, cháu Thuỷ quản lý sử dụng), Vũ Thị Mai, Vũ Thị Tuyết, Vũ Khắc Chung, Vũ Khắc Thái, Vũ Thị Liên, Vũ Thị Dung tại số 12 và tại số 34 ngõ 27 Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội.

7. Bác yêu cầu của chị Vũ Thị Mai đòi thực hiện theo di chúc của cụ Tý được hưởng 100m2 đất tại số 12 ngõ 27 Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội do chị Lan và hai con đang quản lý, sử dụng.

8. Buộc chị Vũ Thị Mai, chị Vũ Thị Dung phải có trách nhiệm giao trả cho chị Trần Thị Lan và hai con là Vũ Thành Đạt, Vũ Thị Thanh Thủy toàn bộ dãy nhà trọ 06 phòng trên diện tích 120m2 tại số 12 và tại số 34 ngõ 27 Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội kể cả phần sân và lối đi đang dùng chung cùng mẹ con chị Lan.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/4/2014, bị đơn là bà Vũ Thị Mai kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Vũ Thị Mai do ông Lê Văn Khánh đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng Bộ luật tố tụng dân sự, luật đất đai hiện hành và không đảm bảo quyền lợi chính đáng của bị đơn. luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lan đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Mai và giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội với lý do: Khi còn sống, cụ Đạo và cụ Tý đã phân chia đất cho các con và từ năm 1993, các con của 2 cụ đã nhận đất, kê khai với chính quyền địa phương  và vào sổ mục kê, nộp thuế sử dụng đất đối với diện tích được chia nên di chúc của cụ Tý lập năm 2009 cho bà Mai 100m2 đất trong diện tích đất 251m2 đất đã chia cho ông Nguyên (chồng bà Lan) là không phù hợp thực tế. Mặt khác, di chúc ghi cho bà Mai 100m2 trong thửa đất 251m2 theo sơ đồ nhưng không có vị trí, mốc giới cụ thể của thửa đất và tài sản trên đất là nhà cấp 4 do bà Lan xây dựng, đồng thời theo lời khai của các con cụ Tý thì tại thời điểm năm 2009 (cụ Tý lập di chúc), cụ Tý già yếu, không còn minh mẫn, phải có người chăm sóc nên giấy chứng nhận sức khỏe do văn phòng luật sư Khánh xuất trình thể hiện cụ Tý còn minh mẫn là không đúng thực tế.

 Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Mai; giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà nội.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và trên cở sở trình bày của các bên đương sự, luật sư, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

XÉT THẤY

Về tố tụng:                            

Đơn kháng cáo của bà Vũ Thị Mai làm trong thời hạn luật định và hợp pháp.

Tài sản tranh chấp là quyền sử dụng 100m2 đất bà Mai cho rằng được cụ Tý di chúc cho bà được hưởng nằm trong phần nhà đất đã chia cho ông Nguyên trước đây. Do ông Nguyên đã chết năm 2000 và các con của bà Lan là anh Đạt và chị Thủy đều đồng ý để mẹ là bà Lan khởi kiện đòi lại nhà đất bà Mai đang chiếm giữ. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật của vụ kiện là “Tranh chấp quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở” là chính xác, đúng pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm xác định chị Huyền con gái của ông Lạc đang công tác ở ngước ngoài và là người có quyền lợi liên quan trong vụ án nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án thành phố. Tuy nhiên, theo lời khai của ông Lạc và xác minh tại địa phương thì hiện tại chị Huyền vẫn đăng ký hộ khẩu tại số 34, ngõ 27, Ngọc Lâm, Long Biên Hà Nội nên ông Khánh cho rằng tòa án xác định địa chỉ của chị Huyền không đúng là không có cơ sở. Tại giấy xác nhận đề ngày 03/3/2014 của chị Huyền gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thể hiện chị Huyền đã ủy quyền cho bố là ông Lạc và xin vắng mặt tại Tòa vì điều kiện công tác và không liên quan đến tranh chấp đất giữa bà Lan và bà Mai nên việc chị Huyền vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm là không vi phạm tố tụng.

Về nội dung: Lời khai của các đương sự trong vụ kiện, lời khai của nhân chứng là họ hàng, tổ dân phố và biên bản xác minh tại UBND phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội đều thống nhất: Khi còn sống, cụ Đạo và cụ Tý đã chia 2 thửa đất số 12 và 34 tại ngõ 27 phố Long Biên 1, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên - Hà Nội cho các con và những người được chia đất đã sử dụng ổn định từ năm 1993, đã được đăng ký trong sổ mục kê và có tên trong bản đồ mốc giới năm 1993 do UBND phường Ngọc Lâm quản lý cụ thể như sau:

- Thửa  số 12 đã chia cho Ông Nguyên 251m2 (nay là thửa số 19). Ông Thái được chia 252m2 (nay là thửa số 18). Ông Chung 271m2 (nay là thửa số 17). Còn lại 166m2 (nay là thửa số 20) cụ Đạo và cụ Tý để lại dưỡng già và đã bán cho vợ chồng con gái là Vũ Thị Liên và Nguyễn Hồng Thắng nên thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Liên.

Thửa số 34 đã chia cho 5 người con gái là: Bà Mai 65m2 (nay là thửa 33). Bà Dung 64m2(nay là thửa 34) và bà Dung đã bán cho ông Long. Bà Tuyết được chia 61m2 (nay là thửa 35) cũng đã bán cho bà Đào. Bà Đào được chia 169m2 (nay là thửa 36). Bà Liên được chia 53m2 (nay là thửa 37) và đã bán cho chị Hiền là con gái bà Đào.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường Ngọc Lâm thì các con của cụ Đạo, cụ Tý trong đó có bà Mai đều đã kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do có tranh chấp nên chưa được cấp. Nếu không có tranh chấp thì các thửa đất này đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 Luật đất đai. Mặt khác, sau khi chia đất cho các con, cụ Đạo và cụ Tý vẫn sống cùng anh Chung tại nhà của các cụ tự xây dựng đến khi chết, chỉ có cụ Tý trước khi chết về sống với chị Lan được hơn 01 năm tại gian nhà cấp 4 do chị Lan xây dựng trong thửa đất được chia 251m2, nhưng khi chết cũng ở tại nhà anh Chung. Như vậy, có cơ sở xác định sau khi được chia đất các con của cụ Đạo, cụ Tý đã quản lý, sử dụng, làm nhà kiên cố trên đất và có người đã bán toàn bộ hoặc một phần đất được chia cho người khác như bà Dung bán toàn bộ đất cho ông Long, bà Tuyết bán cho bà Đào, bà Liên bán cho con bà Đào, ông Thái đã bán 37m2 cho vợ chồng anh Thành và chị Bình còn phần đất của 2 cụ đã bán cho vợ chồng con gái là bà Liên và ông Thắng. Như vậy, toàn bộ 2 thửa đất của cụ tý và cụ Đạo đã được 2 cụ định đoạt từ năm 1993, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định cụ Tý không còn quyền định đoạt đối với 100m2 đất đang tranh chấp nằm trong thửa đất cụ Đạo và cụ Tý đã chia cho ông Nguyên và thuộc quyền sở hữu của ông Nguyên, bà Lan là có căn cứ, phù hợp thực tế. Mặt khác, các tài liệu trong hồ sơ thể hiện từ năm 1998 ông Nguyên và bà Lan đã đứng tên kê khai làm thủ tục đóng thuế và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi ông Nguyên chết, năm 2005 và 2010, chị Lan tiếp tục đứng tên kê khai và làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và năm 2008 đã xây dựng dãy nhà trọ trên diện tích đất đang tranh chấp. Năm 2009 cụ Tý mới về ở cùng chị Lan tại một phòng trong dãy nhà trọ nên Di chúc của cụ tý lập ngày 01/11/2009 cho bà Mai được hưởng 100m2 đất trong đó có nhà cấp 4 do bà Lan xây dựng là không phù hợp với thực tế. Hơn nữa, khi làm di chúc cho bà Mai 100m2 đất không được do đạc cụ thể nên khi Hội đồng định giá đo đạc thì diện tích đất đang có tranh chấp theo sơ đồ trong di chúc lại là 120m2. Khi cụ Tý qua đời bà Mai cũng không công bố di chúc, không sao gửi bản di chúc cho mẹ con bà Lan chỉ thông báo cho bà Liên, bà Tuyết, bà Dung, ông Thái và ông Chung. Tại bản tự khai của bà Liên ngày 09/8/2013 và lời khai của bà Tuyết ngày 23/08/2013 cũng đều xác nhận bố mẹ đã chia đất cho các con từ năm 1993 và đều xác nhận không được bà Mai công bố di chúc của cụ Tý nên cũng không thừa nhận bản di chúc này. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Thái, ông Chung, ông Thành và ông Thắng (chồng bà Liên), ông Lạc (chồng bà Đào) và các đương sự khác đều khẳng định cụ Tý và cụ Đạo đã phân chia đất cho các con trong đó có ông Nguyên và 100m2 đất thể hiện trong di chúc của cụ Tý là không đúng và do ý chí của bà Mai.  

Quá trình giải quyết vụ án, bà Mai cho rằng cụ Tý là người xin phép cho bà Lan xây dựng dãy nhà trọ và có đóng góp 04 chỉ vàng nhưng bà Mai không đưa ra căn cứ nào chứng minh, mặt khác, tài liệu xác minh tại Ủy ban nhân dân phường Ngọc Lâm không có đơn hay giấy tờ nào đứng tên cụ Tý kê khai đối với diện tích đất đã cho anh Nguyên. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Khánh xuất trình đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Tý ghi ngày 10/10/2009 nhưng không được Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận vì đơn này làm sau khi bà Lan đã xây dựng dãy nhà trọ và 01 ngôi nhà 03 tầng trên toàn bộ diện tích 251m2 và đơn của cụ Tý không có cơ quan nào xác nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy, kháng cáo của bà Mai và trình bày của ông Khánh đại diện cho bà Mai tại phiên tòa là không có cơ sở chấp nhận.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Mai phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên; Căn cứ khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 33 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Nghị quyết số 81/2014/QH13 ngày 24/11/2014 của Quốc hội khóa XIII về việc thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Mai; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 14/2014/DS-ST ngày 26/03/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Cụ thể:

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Lan về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đối với bà Vũ Thị Mai.

Xác nhận diện tích đất 251m2 tại số 12 ngõ 27 phố Long Biên 1, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội (thửa số 33) do Ủy ban nhân dân phường Ngọc Lâm quản lý thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng ông Vũ Khắc Nguyên và bà Trần Thị Lan đã được cụ Vũ Khắc Đạo và cụ Nguyễn Thi Tý chia cho từ năm 1993 hiện mẹ con bà Lan đang quản lý sử dụng. Giao bà Lan và các con là Vũ Thành Đạt, Vũ Thị Thanh Thủy là những người kế thừa quyền lợi và nghĩa vụ của ông Nguyên được toàn quyền quản lý sử dụng toàn bộ diện tích 251m2 tại số 12 ngõ 27 Long Biên 1, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội.

Giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Về án phí: bà Vũ Thị Mai phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lại thu tiền số 0009607 ngày 06/5/2014 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội.

 Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án


100
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2016/DS-PT ngày 14/03/2016 về tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở

Số hiệu:22/2016/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/03/2016
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về