Bản án 22/2017/HNGĐ-ST ngày 19/07/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH  BÌNH  THUẬN

BẢN ÁN 22/2017/HNGĐ-ST NGÀY 19/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 19 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2017/TLST/HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 10, xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông

2. Bị đơn: Anh Phạm Đào, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là chị Vũ Thị N  trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Phạm Đ đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 82 ngày 28 tháng 7 năm 2011 do UBND thị trấn T cấp. Sau khi đăng ký kết hôn giữa hai anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh Đ thường hay uống rượu rồi đánh chị đến năm 2012 thì anh chị ly thân cho đến nay. Do đó, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ. Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Minh T, sinh ngày 09.11.2008 và Phạm Thị H, sinh ngày 07.8.2010 chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con Phạm Thị H và giao con Phạm Minh T cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án anh Đ thống nhất với chị N về thời gian địa điểm đăng ký kết hôn, về con chung và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung. Anh thừa nhận năm 2012 anh bỏ về Bình Thuận chữa bệnh và chị N đã đi lấy người khác, nay chị N yêu cầu ly hôn anh đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Minh T và giao con Phạm Thị H cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Về nội dung: Sau khi xem các tài liệu có tại hồ sơ, nghe chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh Đ đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn được đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: giao cháu Phạm Minh T, sinh ngày 09.11.2008 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Phạm Thị H, sinh ngày 07.8.2010 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Đ có nơi cư trú tại khu phố 4, thị trấn T, h uyện H, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện của chị N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận. Anh Đ và chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo quy định.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Đ tự nguyện tìm hiểu, sống chung và có đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 7 năm 2011 tại UBND thị trấn T, do đó quan hệ giữa chị N và anh Đ là quan hệ vợ chồng được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Năm 2012 sau khi phát sinh mâu thuẫn thì anh chị ly thân cho đến nay, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau đã thể hiện tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy đủ căn cứ về việc vợ chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N.

3. Về con chung: Cháu T hiện đang sinh sống học tập tại thị trấn T với anh Đ và cháu H hiện đang sinh sống cùng chị N; để ổn định và tránh xáo trộn tâm lý các con chung khi thay đổi nơi ở nên cần giao cháu T cho anh Đào trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu H cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

4.Tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu HĐXX không xem xét.

5. Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

6. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H sẽ được HĐXX xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Vũ Thị N được ly hôn với anh Phạm Đ.

2. Về con chung:

- Giao cháu Phạm Thị H, sinh ngày 07.8.2010 cho chị Vũ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng.

- Giao cháu Phạm Minh T, sinh ngày 09.11.2008 cho anh Phạm Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

- Anh Phạm Đ và chị Vũ Thị N, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Anh Phạm Đ và chị Vũ Thị N có quyền thăm nom con chung, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

- Vì quyền lợi của con chung, các bên có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Vũ Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0011316 ngày 14.3.2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.

Chị Vũ Thị N và anh Phạm Đ được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.



55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2017/HNGĐ-ST ngày 19/07/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:22/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Tân - Bình Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về