Bản án 22/2017/HSST ngày 14/09/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 22/2017/HSST NGÀY 14/09/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 14 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2017/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2017/HSST-QĐ ngày 01 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

NGUYỄN HOÀI VŨ N (tên gọi khác: G), sinh năm 1991 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn S, xã C, huyện L, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hoài L và bà Mai Thị Thiều T (B); vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo được tại ngoại (có mặt).

- Người bị hại: Bà Đỗ Thị C, sinh năm: 1945; trú tại: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Ông Đinh Bá T, sinh năm 1944 (là chồng của người bị hại).

2. Anh Đinh Bá Th, sinh năm 1982 (là con ruột của người bị hại).

Cùng trú tại: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Bá T: Anh Đinh Bá Th, sinh năm 1982; trú tại: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Mai Thị Thiều T (B), sinh năm 1973 (có mặt).

2. Bà Võ Thị L, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Cùng trú tại: Thôn S, xã C, huyện L, tỉnh Khánh Hòa

- Người làm chứng: Chị Hà Thị Thu T (X), sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoài Vũ N (G) có giấy phép lái xe hạng A1, B2. Khoảng 04 giờ ngày 23 tháng 12 năm 2016, N điều khiển xe mô tô loại xe Exciter, dung tích xilanh 149cm3, biển kiểm soát 79Z1-301.12 đi từ nhà của mình ở thôn S, xã C, huyện L, tỉnh Khánh Hòa,  tỉnh Bình Thuận làm việc. Khoảng 05 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến km 1582+850m Quốc lộ 1A thuộc thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận, N điều khiển xe chạy với vận tốc khoảng 40 km/h đến 45km/h khoảng 15 mét  nhưng do khoảng cách quá gần nên xe do N điều khiển đã tung vào bà C gây tai nạn. Hậu quả: Bà C được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa đến 20 mét có bà Đỗ Thị C đang đi bộ qua đường, N khoa tỉnh Ninh Thuận đến 14 giờ cùng ngày thì chết. Sau khi bà C chết, gia đình tổ chức mai táng, không báo cho cơ quan chức năng khám nghiệm tử thi. mét, gồm 03 làn đường: Hai làn trongcùng (mỗi làn rộng 3,5mét) dành cho xe ô tô, làn ngoài cùng  Bắc-Nam, điểm đầu và điểm cuối cách mép đường phải lần lượt là 4,8 mét và 4,7 mét. Vị trí vết cày không liên tục, trượt theo hướng Bắc-Nam có chiều dài 6,1 mét, điểm đầu và điểm cuối cách mép đường phải lần lượt là 5,1 mét và 4,7 mét. Vết máu KT (0,2x0,3) mét, tâm vết máu cách mép đường phải 4,1 mét và cách điểm cuối vết cày 2,7 mét. 13/GĐHS ngày 04/01/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Thuận kết luận nguyên nhân dẫn đến cái chết của bà Đỗ Thị C là do chấn thương sọ não, nứt sọ chẩm trái, xuất huyết khoang dưới nhện nặng, điều trị không hồi phục

Về trách nhiệm dân sự: Bà Mai Thị Thiều T (B) đã bồi thường cho người đ (bảy mươi triệu đồng), anh Đinh Bá Th người hợp pháp của , chịu trách nhiệm hình sự đối với N. Bà T không yêu cầu N phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường. Bà Võ Thị L không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí sửa chữa xe 79Z1-301.12 bị hư hỏng do tai nạn.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Nam  

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam giữ quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (G) phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; áp dụng: Khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (G) mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường, nay không ai yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét đến. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo N (G) 01 Giấy phép lái xe số 790119230420 mang tên Nguyễn Hoài Vũ N do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13-01-2015 (bản gốc); trả lại cho bà Võ Thị L 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 011404, tên chủ xe Võ Thị L do Công an huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 06-10-2016 (bản sao).-301.12; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 011404, tên chủ xe Võ Thị L do Công an huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 06-10-2016 (bản sao) và 01 Giấy phép lái xe số 790119230420 mang tên Nguyễn Hoài Vũ N do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13-01-2015

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Đinh Bá Th tiếp tục xin bãi nại cho bị cáo, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo; thừa nhận đã được nhận số tiền bồi thường từ mẹ ruột của bị cáo N là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng), nay không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị Thiều T (B) không yêu cầu bị cáo N hoàn trả lại số tiền 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) mà bà đã bồi thường cho gia đình người bị hại. 

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, có ý kiến giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không yêu cầu bị cáo N bồi thường chi phí sửa chữa xe -301.12 bị hư hỏng do tai nạn và có yêu cầu được nhận lại 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 011404, do Công an huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 06-10-2016 (bản sao), hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (G) thừa nhận toàn bộ hành vi, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam. Bị cáo nói lời sau cùng: Biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, rất ăn năn về hành vi sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (G) là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và có giấy phép lái xe đúng quy định. Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 23 tháng 12 năm 2016, khi bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79Z1-301.12 gần đến khu vực km 1582+850m Quốc lộ 1A thuộc thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận, mặc dù phát hiện phía trước có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ và thấy có bà Đỗ Thị C đang đi bộ qua đường nhưng do thiếu quan sát, không nhường đường cho người đi bộ, không đi đúng làn đường quy định nên xe do bị cáo điều khiển đã tung vào bà C đang đi bộ gây tai nạn. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, gây hậu quả làm bà Đỗ Thị C chết. Do đó, bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (G) đã phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, cùng với các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án cho thấy trong vụ án này cũng có một phần lỗi của người bị hại bà Đỗ Thị C h kẻ đường dành cho người đi bộ, vi phạm khoản 2 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Vì vậy, lỗi gây ra tai nạn là lỗi hỗn hợp của bị cáo và người bị hại.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe giáo dục đối với bị cáo, đồng thời có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động mẹ ruột của mình bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của người bị hại; người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo; người bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra các bên đã tự thỏa thuận về phần bồi thường trách nhiệm dân sự. Tại phiên tòa, không ai yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Nam đã trả lại  -301.12 cho chủ sở hữu bà Võ Thị L là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đối với 01 Giấy phép lái xe số 790119230420 mang tên Nguyễn Hoài Vũ N do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13-01-2015 (bản gốc); 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 011404, tên chủ xe Võ Thị L do Công an huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 06-10-2016 (bản sao), đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam đề nghị trả lại các giấy tờ trên cho bị cáo và chủ sở hữu là bà Võ Thị L, Hội đồng xét xử thấy đề nghị trên là phù hợp nên chấp nhận. Tuy nhiên, do các giấy tờ trên hiện lưu tại hồ sơ vụ án do đó khi bản án có hiệu lực pháp luật Tòa án trực tiếp làm thủ tục trả lại.

Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (G) phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (tên gọi khác: G) phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (tên gọi khác: G) 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14-9-2017).

Giao bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (tên gọi khác: Giang) cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Khánh Hòa nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (tên gọi khác: G) 01 Giấy phép lái xe số 790119230420 mang tên Nguyễn Hoài Vũ N do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13-01-2015 (bản gốc) và trả lại cho bà Võ Thị L 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 011404, tên chủ xe Võ Thị L do Công an huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 06-10-2016 (bản sao) - hiện lưu tại hồ sơ vụ án, do Tòa án làm thủ tục trả khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Hoài Vũ N (tên gọi khác: G) phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Mai Thị Thiều T) có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14-9-2017). Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Võ Thị L) quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ. (Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).


65
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2017/HSST ngày 14/09/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:22/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Nam - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:14/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về