Bản án 22/2019/HNGĐ-ST ngày 05/08/2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 22/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/08/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

 Ngày 05 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 118/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2019, về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXX-ST ngày 21 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Võ Thị T, sinh năm 1990;

Địa chỉ cư trú: ấp LT, xã LT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

2. Bị đơn: Lê Đức Q, sinh năm 1984;

Địa chỉ cư trú: ấp PLB, xã PTB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/3/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Võ Thị T trình bày: Vào năm 2007 (không nhớ ngày tháng), chị và anh Lê Đức Q cưới nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PTB, huyện HN, hôn nhân do mai mối nhưng chị vẫn đồng ý. Sau khi cưới vợ chồng anh chị sống với gia đình của anh Q. Thời gian đầu, cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về chuyện tình cảm vợ chồng và tiền bạc chi tiêu trong gia đình. Chị và anh Q đã ly thân từ tháng 8 năm 2018 đến nay, nay chị nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Đức Q.

Về việc nuôi con: Trong thời gian chung sống, chị và anh Lê Đức Q 02 con chung tên Lê Võ Ngọc Tr1, sinh ngày 27/5/2008 và Lê Võ Ngọc Tr2, sinh ngày 01/6/2012, hiện nay 02 cháu đang sống với chị. Nay ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu anh Đức Q cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi cháu mỗi tháng là 1.200.000 đồng. Nhưng tại phiên tòa hôm nay, chị rút lại yêu cầu không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

Về tài sản chung: Chị và anh Lê Đức Q tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh Lê Đức Q chung sống không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Lê Đức Q, Toà án đã triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại bản khai ngày 08/5/2019, cháu Lê Võ Ngọc Tr1 trình bày: “Ba với mẹ ly hôn nguyện vọng con ở với mẹ”.

Tại bản khai ngày 08/5/2019, cháu Lê Võ Ngọc Tr2 trình bày: “Ba với mẹ ly hôn nguyện vọng con ở với mẹ”.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Võ Thị T được ly hôn với anh Lê Đức Q; về con chung: giao 02 cháu Lê Võ Ngọc Tr1, sinh ngày 27/5/2008 và Lê Võ Ngọc Tr2, sinh ngày 01/6/2012 cho chị Võ Thị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, đình chỉ phần yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi 02 con chung, anh Lê Đức Q không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

[2l Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Lê Đức Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[3]Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Võ Thị T anh Lê Đức Q là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Q, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của chị T tại phiên tòa hôm nay thì cuộc sống của chị và anh Q không hạnh phúc nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về chuyện tình cảm vợ chồng và tiền bạc chi tiêu trong gia đình. Trong thời gian vợ chồng không còn sống chung tuy có gặp nhau nhưng chỉ cải nhau chứ không bàn bạc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đối với anh Đức Q thì Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải, động viên cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh vẫn không đến và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị T anh Q hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Khi vợ hoặc chồng yêu cẩu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Võ Thị T ly hôn với anh Lê Đức Q.

[4]Về việc nuôi con: Tại phiên tòa hôm nay, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Võ Ngọc Tr1, sinh ngày 27/5/2008 và Lê Võ Ngọc Tr2, sinh ngày 01/6/2012, Hội đồng xét xử xét thấy, 02 cháu Ngọc Tr1 và Ngọc Tr2 từ khi sinh ra cho đến nay đều do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và để ổn định việc sinh hoạt của cháu, cũng như phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu là muốn sống với chị T, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con của chị T. Tại phiên tòa hôm nay, chị T rút một phần yêu cầu khởi kiện là chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi 02 con chung, Hội đồng xét xử xét thấy việc rút yêu cầu của chị T là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

[5]Về tài sản chung: Do chị T trình bày tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh Q không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[6]Về nợ chung: Do chị T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh Q không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[7]Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHI4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị T anh Lê Đức Q.

2. Về việc nuôi con:

2.1.Chị Võ Thị T được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Võ Ngọc Tr1, sinh ngày 27/5/2008 và Lê Võ Ngọc Tr2, sinh ngày 01/6/2012.

2.2.Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Võ Thị T.

2.3.Anh Lê Đức Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.4.Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị T chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004289 ngày 08/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4.Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST ngày 05/08/2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:22/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hồng Ngự - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về