Bản án 22/2019/HS-ST ngày 05/08/2019 về tội cố ý gây thương tích và cố ý làm hư hỏng tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 22/2019/HS-ST NGÀY 05/08/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH VÀ CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

Ngày 05 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2019/HSST-QĐ ngày 18 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1997 tại tỉnh Bến Tre. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T, sinh năm: 1977 (sống) và bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1976 (sống); có vợ và 01 con sinh năm 2017; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/3/2019 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Bến Tre; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa: Ông Trần Nhật Long H - Luật sư Văn phòng Luật sư AB thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre (Có mặt).

- Bị hại:

1. Anh Lê Văn S, sinh năm: 1980.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp TV, xã ĐT, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Chỗ ở hiện nay: Ấp AH, xã AT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Có mặt).

2. Anh Trịnh Minh Q, sinh năm: 1976.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 137, khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm: 1976.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Có mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Đặng Ngọc P (Đ), sinh năm: 1988.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp VT, ấp HT, huyện C, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

2. Anh Nguyễn H (Đ), sinh năm: 1988.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

3. Anh Mai Văn P (T), sinh năm: 1984.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

4. Chị Quách Nguyệt T, sinh năm: 1973.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

5. Chị Trịnh Mai V, sinh năm: 1980.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

6. Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1977.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

7. Anh Nguyễn Tấn H, sinh năm: 1975.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

8. Anh Nguyễn Thành T (TR), sinh năm: 1984.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp AV, xã ĐP, huyện M, tỉnh Bến Tre (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất:

Khong 20 giờ 30 phút ngày 22/02/2017, trong lúc chơi game bắn cá tại tiệm game HN thuộc khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, Nguyễn Thanh H đưa cho Lê Văn S số tiền 200.000 đồng nhờ S đi mua ma túy đá về sử dụng. Sau đó, Nguyễn Thanh H và Lê Văn S xảy ra mâu thuẫn cự cãi do H cho rằng S mua ma túy đá không hết số tiền mà H đưa cho S nên H dùng nón bảo hiểm đánh S; còn S dùng ghế nhựa đỡ và bỏ chạy ra đường huyện 22. Lúc này H cầm con dao thái lan đuổi theo S, khi S chạy đến đầu đường vào chùa BS thì bị vấp té ngã sấp về phía trước nên H chạy đến tay phải cầm dao đâm một nhát trúng vào vùng lưng bên phải của S. Sau khi bị đâm trúng lưng, S xoay người nằm ngữa dùng chân đạp H và chụp lưỡi dao H cầm bẻ cong lưỡi dao. Sau khi gây thương tích cho S, H cầm con dao trở lại tiệm game ra phía sau nhà vứt bỏ con dao, S được đưa đi bệnh viện CM cấp cứu điều trị thương tích.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 181-618/TgT ngày 22/6/2018 của T tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Bến Tre kết luận Lê Văn S như sau: Vết thương lưng phải dài 02 cm, vị trí liên sườn VII-VIII cách đường nách sau 04 cm. XQ: Tràn khí màng phổi phải. Tràn khí dưới da. XQ: tràn dịch màng phổi phải, ổ cặn màng phổi phải. Chuyển bệnh viện Chợ Rẫy chẩn đoán: mủ màng phổi phải, ổ cặn và mủ từ cơ hoành lên đến đỉnh phổi phải. Phẩu thuật: Mở ngực phải gở dính ba thùy phổi phải làm sạch ổ mủ, bốc tách khoang màng phổi phải, dẫn lưu kín khoang màng phổi phải. Hiện: Không khó thở. Vết thương lành sẹo, kích thước 02cmx0,3cm. Vết mổ lành sẹo, kích thước 19cmx0,2cm. XQ ngực thẳng: dày dính ít đáy phổi phải. Kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích của Lê Văn S là 32%.

Tại Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số: 4302/C09B ngày 23/10/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Viện khoa học hình sự kết luận: Vết thương vùng lưng ngang khoang liên sườn VII-VIII bên phải của Lê Văn S là do vật sắc nhọn gây ra, theo cơ chế đâm có chiều hướng từ sau ra trước, chếch từ phải qua trái. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai bị can, người bị hại, người làm chứng và phù hợp với kết quả giám định cơ chế gây thương tích.

Vụ thứ hai:

Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 10/9/2018, Nguyễn Thanh H đến tiệm game bắn cá HN thuộc khu phố 3, thị trấn TT, huyện M thì xảy ra mâu thuẫn trong lời nói với chủ tiệm game là anh Trịnh Minh Q về việc H đòi chuộc lại 02 cái nón bảo hiểm hiệu Sơn mà H cho rằng đã cầm tại tiệm game của anh Q nhưng H không lấy được nón. Sau đó, H về nhà lấy 01 cây búa có cán bằng kim loại dài khoảng 50cm, đầu búa bằng kim loại dài khoảng 10 cm trở lại tiệm game bắn cá của anh Q đập phá làm hư hỏng 02 máy game bắn cá đặt tại tiệm rồi bỏ về nhà, hung khí gây án không thu hồi được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐG ngày 15/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân huyện M kết luận: 01 (một) máy game bắn cá loại 8 người chơi (8 tay), kích thước 1,82m x 1,21m x 0,72m, màn hình và kính bảo vệ màn hình có kích thước 1,32m x 0,815m, kính dày 08mm. Bị thiệt hại (hủy hoại) gồm: Kính bảo vệ màn hình bị nứt vỡ hoàn toàn. Màn hình LED 55 inches, không rõ nhãn hiệu bị nứt vỡ 2 vết có kích thước 15cm x 15cm và 17cm x17cm (màn hình không còn hoạt động được). Giá trị tài sản thiệt hại là 5.000.000 đồng.

Vụ thứ ba:

Khong 09 giờ 35 phút, ngày 14/9/2018, Nguyễn Thanh H nghe tin anh Trịnh Minh Q đi báo Công an sự việc H đập máy game bắn cá của anh Q vào ngày 10/9/2018 nên H bực tức tiếp tục đến tiệm game bắn cá của anh Q thuộc khu phố 3, thị trấn TT, huyện M dùng cây búa có cán bằng gỗ dài khoảng 50 cm, đầu búa bằng kim loại dài khoảng 10 cm đập phá vào một máy game bắn cá đặt tại tiệm (là máy game bắn cá bị H đập hư hỏng vào ngày 10/9/2018 được anh Q sửa chữa lại) làm hư hỏng máy game này, hung khí gây án không thu hồi được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 08/KL-HĐĐG ngày 15/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân huyện M kết luận: 01 (một) máy game bắn cá loại 8 người chơi (8 tay), kích thước 1,82m x 1,21m x 0,72m, màn hình và kính bảo vệ màn hình có kích thước 1,32m x 0,815m, kính dày 08mm, đã qua sử dụng. Bị thiệt hại (hủy hoại) gồm: Kính bảo vệ màn hình bị nứt vỡ hoàn toàn. Màn hình LED hiệu ASANZO loại 55 inches, model 55SK900, số máy SK904310818AB1077, bị nứt vỡ 2 vết có kích thước 20cm x 25cm và 25cm x 12cm (màn hình không còn hoạt động được). Giá trị tài sản thiệt hại là 10.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 21 tháng 6 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện M để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thanh H về “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra, truy tố và thừa nhận hành vi đã thực hiện theo nội dung bản cáo trạng; bị hại Lê Văn S giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra; bị hại Trịnh Minh Q có đơn xin vắng mặt; các người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, cho rằng: Việc truy tố hành vi của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bảo lưu toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm “Tội cố ý gây thương tích” và “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”, đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về “Tội cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt của “Tội cố ý gây thương tích” và “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”, buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chấp hành hình phạt từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589, 590 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thanh H đã tác động gia đình bồi thường xong thiệt hại theo yêu cầu của bị hại Trịnh Minh Q với tổng số tiền 15.000.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thanh H đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại Lê Văn S với số tiền 58.394.565 đồng gồm chi phí điều trị thương tích là 18.394.656 đồng; chi phí đi lại, ăn uống bồi dưỡng của bị hại và chi phí đi lại ăn uống của người nuôi bệnh là 20.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại là 20.000.000 đồng. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại S được số tiền 10.000.000 đồng, còn lại số tiền 48.394.565 đồng. Buộc bị cáo H có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho bị hại S số tiền 48.394.565 đồng.

Ghi nhận bà Nguyễn Thị Kim C đã cho bị cáo H số tiền 25.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại, bà Chi không yêu cầu bị cáo trả lại.

- Về xử lý vật chứng: Không có.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh H là ông Trần Nhật Long H trình bày:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh H mà Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố là đúng người, đúng tội và thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đề nghị nên không có ý kiến tranh luận. Tuy nhiên, đối với hành vi cố ý gây thương tích thì sự việc xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại S trong việc bị hại mua ma túy không đủ và không đúng số tiền mà bị cáo đã đưa cho bị hại nên đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là mức thấp nhất của khung hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị - 02 năm 06 tháng tù. Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản cũng có một phần lỗi của bị hại Q trong cách xử sự chưa đúng mực của mình nên đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là mức thấp nhất của khung hình phạt - 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự, xét thấy các bên đã thỏa thuận với nhau và phù hợp với quy định của pháp luật nên không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu trên. Bị cáo nhận tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở xác định:

- Ngày 22/02/2017, tại tiệm game bắn cá HN thuộc khu phố 3, thị trấn TT, huyện M, tỉnh Bến Tre do xảy ra mâu thuẫn cự cãi Nguyễn Thanh H có hành vi dùng dao thái lan là hung khí nguy hiểm đâm một nhát trúng vào vùng lưng bên phải của Lê Văn S gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích là 32%.

- Ngày 10/9/2018, tại tiệm game bắn cá HN thuộc khu phố 3, thị trấn TT, huyện M Nguyễn Thanh H có hành vi dùng búa có cán bằng kim loại, đầu bằng kim loại đập phá làm hư hỏng hai máy game bắn cá của Trịnh Minh Q, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 5.000.000 đồng.

- Ngày 14/9/2018, tại tiệm game bắn cá HN thuộc khu phố 3, thị trấn TT, huyện M Nguyễn Thanh H tiếp tục có hành vi dùng búa có cán bằng gỗ, đầu bằng kim loại đập phá làm hư hỏng một máy game bắn cá của Trịnh Minh Q, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 10.000.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thanh H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi xâm hại đến sức khỏe và tài sản của người khác là hành vi vi phạm phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện đây là lỗi cố ý trực tiếp của bị cáo. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thanh H phạm “Tội cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khoẻ của anh Lê Văn S, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của anh Trịnh Minh Q, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự khu dân cư nơi xảy ra vụ án, gây tâm lý bất an cho người dân, bản thân bị cáo có nhân thân không tốt. Vì vậy, cần đưa vụ án ra xét xử là điều cần thiết và có một hình phạt nghiêm khắc để cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này hiện nay.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Đối với hành vi cố ý gây thương tích: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại; trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo. Đối với mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

- Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại; trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại Trịnh Minh Q có đơn xin bãi nại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được áp dụng đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã tác động mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Kim C bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại Trịnh Minh Q số tiền 15.000.000 đồng, bị hại Q không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại Lê Văn S số tiền 58.394.565 đồng gồm chi phí điều trị thương tích là 18.394.656 đồng; chi phí đi lại, ăn uống bồi dưỡng của bị hại và chi phí đi lại ăn uống của người nuôi bệnh là 20.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại là 20.000.000 đồng. Hiện tại, bị cáo đã tác động mẹ ruột bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại S với số tiền 10.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Kim C đã thay bị cáo bồi thường cho các bị hại với tổng số tiền 25.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các đương sự, phù hợp với Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên ghi nhận.

Buộc bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho bị hại Lê Văn S số tiền 48.394.565 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng: Không có.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm “Tội cố ý gây thương tích” và “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 01 (một) năm tù về “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt của “Tội cố ý gây thương tích” và “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”, buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chấp hành hình phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/3/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 590 của Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho bị hại Lê Văn S số tiền 48.394.565đ (Bốn mươi tám triệu ba trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm sáu mươi lăm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về nghĩa vụ chịu tiền án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 2.419.728đ (Hai triệu bốn trăm mười chín nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng).

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2019/HS-ST ngày 05/08/2019 về tội cố ý gây thương tích và cố ý làm hư hỏng tài sản

Số hiệu:22/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Nam - Bến Tre
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 05/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về