Bản án 222/2017/HSST ngày 13/07/2017 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 222/2017/HSST NGÀY 13/07/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 13 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 163/2017/HSST ngày 12/6/2017 đối với bị cáo :

NGUYỄN THÀNH C, giới tính: Nam; sinh: 27/3/1988; nơi sinh: tại tỉnh L; thường trú: đường T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: đường K, khu phố Z, phường L, quận T, Tp.Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: buôn bán; con ông Nguyễn Đạo T và bà Phạm Thị Thái B; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giam: 02/7/2016 đến ngày 11/7/2016 được thay đổi biện pháp ngăn chặn (có mặt).

Người quyền lợi nghĩa v liên quan:

1- Phạm Văn T, sinh: 1992

Thường trú: thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

Chỗ ở: đường H, phường B, quận V, Tp.HCM (vắng mặt)

2- Đỗ Văn D sinh: 1987

Thường trú: thôn X, xã L, huyện M, Tp.Hà Nội.

Chỗ ở: đường K, khu phố Z, phường L, quận T, Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt)

3- Nguyễn Văn T sinh: 1986

Thường trú: thôn X, xã L, huyện M, Tp.Hà Nội.

Chỗ ở: đường K, khu phố Z, phường L, quận T, Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt)

4- Trịnh Quang M sinh: 1988

Thường trú: thôn X, xã L, huyện M, Tp.Hà Nội.

Chỗ ở: đường T, khu phố P, phường L, quận T, Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt)

5- Đỗ Quang H sinh: 1991

Thường trú: thôn X, xã L, huyện M, Tp.Hà Nội.

Chỗ ở: khu phố E, thị trấn M, huyện B, tỉnh Bình Dương (vắng mặt)

6- Đỗ Văn Q sinh: 1987

Thường trú: thôn X, xã L, huyện M, Tp.Hà Nội.

Chỗ ở: đường K, khu phố Z, phường L, quận T, Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt)

7- Đoàn Kiêm C sinh: 1985

Thường trú: thôn G, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.

Chỗ ở: đường K, khu phố Z, phường L, quận T, Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt)

8- Chị Trịnh Thị Thanh Nhàn sinh: 1989

Thường trú: đường D, khu phố F, phường H, quận T, Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Lợi dụng giải vô định bóng đá châu Âu năm 2016 (còn gọi là Euro 2016), diễn ra tại Pháp từ ngày 10/6/2016 đến ngày 10/7/2016 và tỷ lệ thắng thua thể hiện trên mạng internet, Nguyễn Thành C đã đứng ra tổ chức cho một số đối tượng cá độ bóng đá ăn thua bằng tiền với C. C bắt đầu nhận cá độ bóng đá từ ngày 21/6/2016, tại quán nhậu “B & E”, địa chỉ đường K, khu phố Z, phường L, quận T, Tp.Hồ Chí Minh, do C làm chủ. Hàng ngày, vào khoảng từ 01 giờ 45 phút đến 03 giờ sáng, C ngồi tại quán, khi có người đến quán nhậu hoặc đến xem tường thuật trực tiếp bóng đá trên ti vi được đặt tại quán và có nhu cầu cá độ bóng đá thì C đồng ý nhận và ghi tỷ số, số tiền cá độ vào 01 cuốn sổ, khi có kết quả thì C trực tiếp trả tiền cho người thắng cược. Cách thức cá độ như sau: người cá độ chọn đội bóng cần bắt hoặc mua tài (tổng tỷ số trận đấu đội nào bóng vào i từ 03 bàn thắng trở n), xỉu (tng tỷ số trận đấu đội nào bóng vào lưi i 02 bàn thng trở xuống), kèo trên - dưới, thắng – thua, chấp tỷ số và đưa tiền cho C. C quy ước với những người cá độ nếu cá độ với C thắng 100.000đ thì C trả 80.000đ (tỷ lệ 8/10) hoặc 90.000đ (tỷ lệ 9/10) hoặc thỏa thuận khác, còn nếu các đối tượng cá độ thua C thì C lấy hết số tiền cá cược.

Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 02/7/2016, tại quán nhậu “B & E”, địa chỉ đường K, khu phố Z, phường L, quận T nêu trên, Nguyễn Thành C đang đánh bạc trái phép dưới hình thức cá độ bóng đá ăn thua bằng tiền với Phạm Văn T, Đỗ Văn D, Nguyễn Văn T, Đỗ Quang H, Trịnh Quang M, Đỗ Văn Q và số đối tượng khác trong trận bóng đá giữa đội Xứ Wales và đội Bỉ thì Công an quận Thủ Đức phát hiện, lập biên bản người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Thống kê phơi do C ghi tiền cá độ bóng đá của các đối tượng Phạm Văn T, Đỗ Văn D, Nguyễn Văn T, Đỗ Quang H, Trịnh Quang M, Đỗ Văn Q và người tên T (chưa rõ lai lịch) trong trận bóng đá giữa đội Bỉ và Xứ Wales gày 02/7/2016 là 8.750.000đ. Do bị thua kèo phạt góc, C đã trả tiền thua là 4.850.000đ, gồm: trả cho Đỗ Văn Q 1.850.000đ, trong đó tiền thua là 850.000đ; trả cho Nguyễn Văn T 1.000.000đ, trong đó tiền thua là 500.000đ; trả cho người tên T 2.000.000đ, trong đó tiền thua là 1.000.000đ. Số tiền còn lại chưa có kết quả thắng, thua thì bị phát hiện bắt giữ. Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thành C sử dụng đánh bạc là 11.100.000đ.

Qúa trình điều tra xác định:

Phạm Văn T mang theo số tiền 920.000đ và sử dụng 100.000đ cá độ với C đội Bỉ thắng đội xứ Wales, nhưng chưa có kết quả thì bị bắt quả tang và số tiền dùng đánh bạc là 100.000đ. Số tiền T bị thu giữ là 820.000đ.

Đỗ Văn D mang theo số tiền 800.000đ và đưa hết số tiền này cho C để cá độ với C đội Bỉ thắng đội Xứ Wales. Chưa có kết quả thì bị bắt và số tiền D sử dụng đánh bạc là 800.000đ.

Nguyễn Văn T mang theo số tiền 3.050.000đ và đưa 900.000đ cho C để cá độ với C ở 03 kèo: đội Bỉ thắng đội Xứ Wales 2-1, số tiền là 200.000đ; Bỉ thắng Xứ Wales 2-0, với số tiền là 200.000đ; bắt hiệp 1, Bỉ đá 03 quả phạt góc, với số tiền 500.000đ. Chưa có kết quả trận đấu, nhưng T thắng phạt góc được 500.000đ, C trả cho T 1.000.000đ (số tiền gốc là 500.000đ). Số tiền T sử dụng đánh bạc là 1.400.000đ. Số tiền T bị thu giữ là 3.150.000đ.

Trịnh Quang M mang theo số tiền 4.500.000đ và M chỉ sử dụng số tiền 1.200.000đ để cá độ với C 03 kèo (đội Bỉ thắng đội Xứ Wales 3-2, đội Xứ Wales và Bỉ đồng banh, đội Xứ Wales chấp Bỉ). Chưa có kết quả thì bị bắt và số tiền M sử dụng đánh bạc là 1.200.000đ, bị thu giữ số tiền 3.300.000đ.

Đỗ Quang H mang theo số tiền 3.900.000đ và đưa số tiền 400.000đ cho C để cá độ với C, vừa bắt đội Bỉ thắng và vừa bắt đội Xứ Wales thắng. Chưa có kết quả thì bị bắt. Số tiền H sử dụng đánh bạc là 400.000đ, số tiền bị thu giữa là 3.500.000đ.

Đỗ Văn Q mang theo số tiền 1.300.000đ và đưa hết số tiền này cho C để cá độ với C: đội Xứ Wales thắng đội Bỉ 2-1, số tiền là 200.000đ; Xứ Wales thắng Bỉ 3-1, với số tiền là 100.000đ (chưa có kết quả); còn lại 1.000.000đ, Q cá độ với C hiệp 1 đá phạt góc thắng được số tiền 850.000đ. Q đã lấy tiền thắng và tiếp tục cá độ phạt góc số tiền 1.000.000đ, chưa có kết quả thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền Q sử dụng đánh bạc là 2.150.000đ. Số tiền Q bị thu giữ là 850.000đ.

Đối tượng có tên là N (chưa rõ lai lịch) cá độ với C, đội Bỉ thắng xứ Wales ½ trái (nếu tỷ số hòa thì N thua C), với số tiền 800.000đ. Chưa xác định thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền N sử dụng đánh bạc là 800.000đ.

Đối tượng có tên T cá độ với C, đội xứ Wales thắng Bỉ 2-1, với số tiền 200.000đ, nhưng chưa xác định thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền T sử dụng đánh bạc là 200.000đ.

Đối tượng có tên D cá độ với C, đội xứ Bỉ thắng Wales 2-1, với số tiền 200.000đ, nhưng chưa xác định thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền D sử dụng đánh bạc là 200.000đ.

Đối tượng có tên D1 cá độ với C 02 kèo, với tổng số tiền 250.000đ. Kèo thứ nhất, đội Bỉ hòa xứ Wales 2-2, kèo thứ hai đội xứ Wales thắng Bỉ 2-1, nhưng chưa xác định thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền D1 sử dụng đánh bạc là 250.000đ.

Đối tượng có tên M cá độ với C, đội Bỉ thắng xứ Wales 3-2, với số tiền 100.000đ, nhưng chưa xác định thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền M sử dụng đánh bạc là 100.000đ.

Đối tượng có tên M1 cá độ với C, đội xứ Wales thắng Bỉ, với số tiền 500.000đ, nhưng chưa xác định thắng thua thì bị phát hiện. Số tiền M1 sử dụng đánh bạc là 500.000đ.

Đối tượng có tên T1 cá độ phạt góc với C, với số tiền 1.000.000đ. T1 thắng nên C đã trả cho T1 số tiền 2.000.000đ. T1 ra về trước khi Công an quận Thủ Đức phát hiện vào bắt giữ quả tang.

Ngoài ra, Nguyễn Thành C còn cá độ bóng đá ăn tiền với Đoàn Kiêm C, nhưng C không nhớ cụ thể thời gian, số tiền cá độ và tiền thắng thua. Đoàn Kiêm C khai nhận: có cá độ bóng đá ăn tiền với C vào ngày 27/6/2016 trong trận bóng giữa đội Ý-Tây Ban Nha, với số tiền 400.000đ (thua). Ngày 01/7/2016, C cá cược với C trận đấu giữa Bồ Đào Nha –Ba Lan, đá phạt góc số tiền 1.700.000đ. (thua)

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Nguyễn Thành C, Phạm Văn T, Đỗ Minh D, Nguyễn Văn T, Đỗ Quang H, Đỗ Văn Q, Trịnh Quang M, Đoàn Kiệm C đã khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên.

Vật chứng thu giữ, gồm:

- 01 ti vi màu đen, hiệu sharp, 01 ĐTDĐ hiệu Sony, 01 cuốn số ghi cá cược;

- Thu giữ số tiền dùng đánh bạc là 6.750.000đ. (C 4.900.000đ, T 1.000.000đ và Q 850.000đ)

- Tiền thu trong người của những người đánh bạc, nhưng không sử dụng đánh bạc số tiền 29.080.000đ; trong đó: thu trong người C 19.310.000đ, H là 3.500.000đ, T là 820.000đ, T là 2.150.000đ và M là 3.300.000đ.

Tại bản cáo trạng số 93/CT – VKS ngày 23/02/2017, Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức phát biểu ý kiến đánh giá nội dung vụ án, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng đã truy tố, đề nghị áp dụng điều luật đã truy tố, áp dụng điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, xử lý vật chứng vụ án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo tỏ thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo được xác định là khách quan phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định: Ngày 02/7/2016, tại quán nhậu “B & E”, địa chỉ đường K, khu phố Z, phường L, quận T, Tp.Hồ Chí Minh, bị cáo đã có hành vi đánh bạc trái phép ăn tiền bằng hình thức cá độ bóng đá được thua bằng tiền với Phạm Văn T, Đỗ Văn D, Nguyễn Văn T, Đỗ Quang H, Trịnh Quang M, Đỗ Văn Q và một số người khác (không rõ lai lịch), số tiền đánh bạc trái phép là 11.100.000đ, nên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đă gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương, mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc trái phép sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng vì động cơ vụ lợi bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Việc truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khỏan 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, nên giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi ở ổn định rõ ràng và từ khi được tại ngoại đến nay không có vi phạm gì, có khả năng tự cải tạo hoàn lương, không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với hành vi đánh bạc mà bị cáo khai nhận trước ngày bị bắt quả tang, do không có căn cứ chứng minh số tiền đánh bạc, nên không có cơ sở xem xét và không có căn cứ xác định số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính.

Đối với Phạm Văn T, Đỗ Văn D, Nguyễn Văn T, Đỗ Quang H, Trịnh Quang M, Đỗ Văn Q và Đoàn Kiêm C, có tham gia đánh bạc, nhưng chưa đến mức chịu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ.

Đối với người tên T1, do không xác định được lai lịch và số tiền đánh bạc, nên không có căn cứ xử lý.

Về xử lý tang vật:

- Số tiền 6.750.000đ, 01 ĐTDĐ hiệu Sony, thu giữ của bị cáo, là tiền và vật liên quan đến hành vi phạm tội, nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- 01 cuốn sổ ghi cá cược, là tài liệu của vụ án, nên lưu trong hồ sơ vụ án.

- Chiếc tivi màu đen, hiệu Sharp thu giữ, là của chị N cho bị cáo mượn và không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên trả cho chị N.

- Số tiền thu giữ của bị cáo C 19.310.000đ, của Đỗ Quang H là 3.500.000đ, của Phạm Văn T là 820.000đ, của Nguyễn Văn T là 2.150.000đ và Trịnh Quang M là 3.300.000đ, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo C và những người có tên nêu trên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội “Đánh bạc”.

2- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thành C cho UBND phường L, quận T, Tp.Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

3- Áp dụng khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 6.750.000đ, 01 ĐTDĐ hiệu Sony.

- Trả lại cho anh Đỗ Quang H số tiền là 3.500.000đ.

- Trả cho anh Phạm Văn T số tiền là 820.000đ.

- Trả cho anh Nguyễn Văn T số tiền là 2.150.000đ.

- Trả cho anh Trịnh Quang M số tiền là 3.300.000đ.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Thành C số tiền 19.310.000đ.

- Trả cho chị Trịnh Thị Thanh N 01 tivi màu đen, hiệu Sharp

(Phiếu nhập kho số 20 ngày 01/12/2016, giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1054723.00000 tại kho bạc nhà nước quận Thủ Đức, lập ngày 14/11/2016 của Chi cục THADS quận Thủ Đức)

4- Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án.


101
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 222/2017/HSST ngày 13/07/2017 về tội đánh bạc

Số hiệu:222/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về