Bản án 223/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 223/2018/HS-ST NGÀY 28/11/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 28 tháng 11 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 228/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 09/9/1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; cư trú tại: Đường T, phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T sinh năm 1949 và bà Bạch Thị H sinh năm 1958; chồng tên Trần Duy Vũ H; có 03 con sinh năm 2004, 2005 và 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; ngày 24/10/2018 bị bắt tạm giam, ngày 26/10/2018 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Phan Võ L, sinh năm 1971; cư trú tại: Đường L, phường S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ ngày 24/10/2018, Nguyễn Thị Thùy L đi bộ ngang qua căn nhà số 418/2/2 đường Lê Văn Thọ, Phường 11, quận Gò Vấp thì thấy cửa mở, không có người trông coi nên nảy xin ý định trộm cắp. L lẻn vào nhà, nấp sau rèm cửa. Khi thấy chủ nhà là ông Phan Võ L ra khỏi nhà, L đi lên phòng ngủ, giật bung ngăn kéo tủ bàn trang điểm lấy trộm 02 sợi dây chuyền vàng, 02 nhẫn kim loại vàng cất giấu trong người. Sau đó, L nấp sau rèm cửa khoảng 30 phút thì ông L quay trở về và mở cửa vào nhà. Lúc này, L bỏ chạy ra ngoài, ông L đuổi theo cùng với người dân bắt giữ L cùng vật chứng.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 05/CTr-VKS ngày 14/11/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Thị Thùy L về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:

- Tuyên bố Nguyễn Thị Thùy L phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, i và s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án khoan hồng vì đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình và quyết tâm sửa chữa, không vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên thực hiện hành vi, quyết định tố tụng, thu thập chứng cứ, tài liệu theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

 [2] Về nội dung:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đã truy tố. Theo đó, khi đang đi bộ trên đường về nhà, thì bị cáo nhìn thấy cửa chính của căn nhà số 418/2/2 đường Lê Văn Thọ, Phường 11, quận Gò Vấp đang mở, bên trong nhà không có người nên nảy sinh ý định vào nhà trộm cắp tài sản. Bị cáo đã lẻn vào bên trong căn nhà và nấp sau tấm rèm cửa. Một lát sau thấy người bên trong đi ra khỏi nhà, bị cáo liền đi lên lầu, vào phòng ngủ lấy trộm số tài sản gồm 02 sợi dây chuyền vàng, 02 nhẫn kim loại vàng cất giấu trong người, rồi đi xuống nhà nấp lại vào sau tấm rèm; khi chủ nhà là ông Phan Võ L quay trở về đã phát hiện và cùng với người dân bắt giữ bị cáo

Kết luận định giá tài sản số 331/KL ngày 30/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã xác định: Giá trị các loại nữ trang tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 24/10/2018 là 17.415.000 đồng, trong đó: Giá trị sợi dây chuyền 3,16 chỉ vàng 18k loại 68%, dài 50cm là 6.635.000 đồng, giá trị sợi dây chuyền 1,47 chỉ vàng 18 loại 68%, dài 45cm là 3.134.000 đồng, giá trị chiếc nhẫn 1,7 chỉ vàng 18k loại 68%, có đính hột đá là 3.694.000 đồng, giá trị chiếc nhẫn 1,9 chỉ vàng 18k loại 68%, có đính hột đá là 3.952.00 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ, phù hợp với bản kết luận điều tra vụ án hình sự và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, việc Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác để lén lút trộm cắp. Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, thực hiện một cách cố ý để chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản của người khác. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, xét thấy bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam một thời gian, hiện đang tại ngoại, bị cáo chưa vi phạm chính sách pháp luật tại địa phương, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, bị cáo đang nuôi con nhỏ nên áp dụng các khoản 1 và 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tu sửa bản thân, chăm lo cho gia đình và trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phạt tiền đối với bị cáo.

 [3] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Số tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho bị hại. Bị hại đề nghị vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

 [4] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố Nguyễn Thị Thùy L phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, i và s khoản 1 Điều 51, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt Nguyễn Thị Thùy L 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 28 tháng 11 năm 2018.

Giao Nguyễn Thị Thùy L cho Ủy ban nhân dân phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo rõ.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 223/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:223/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về