Bản án 226/2006/KDTM-ST ngày 24/05/2006 về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 226/2006/KDTM-ST NGÀY 24/05/2006 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Ngày 24 tháng 5 năm 2006 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ án thụ lý số: 420/KTST ngày 13 tháng 12 năm 2005 về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 851/QĐ-ĐXX ngày 03 tháng 5 năm 2006 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam

Địa chỉ: 198 Trần Quang Khải, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

Đại diện: Bà Lương Thanh Trà, GUQ 107/UQ-NHNT.PC ngày 17/6/05.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Kim Lành

Địa chỉ: 92/4 Vạn Hạnh, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Tp.HCM

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Dương Gia Thụ và bà Trần Thị Thuận (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: 28/25 Trường Chinh, P. Tây Thạnh, Q. Tân Phú, TPHCM

- Ông Lã Xuân Hưng

- Bà Đặng Thị Ngọc Tuyền ủy quyền cho ông Lã Xuân Hưng theo GUQ ngày 23/01/2006.

Cùng địa chỉ: 525 An Dương Vương, P.8 Quận 5, TPHCM

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 10 năm 2005 và tại phiên tòa nguyên đơn là Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (CN khu chế xuất Tân Thuận) trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn là bà Nguyễn Kim Lành có giao kết hợp đồng kinh doanh thương mại về tín dụng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, nên nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán số nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 018.003.04.000171TD/VCBTT ngày 12/7/2004 và phụ lục hợp đồng số 01 ngày 07/4/2005 là: 4.102.997.631 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 3.397.000.000 đồng và nợ lãi (tạm tính đến ngày 24/5/2006): 705.997.631 đồng. Nếu bà Nguyễn Kim Lành không trả được nợ thì phải chịu các biện pháp cưỡng chế theo qui định của pháp luật kể cả việc phát mãi tài sản thế chấp gồm:

- Căn nhà số 28/25 Trường Chinh, P.15 Q. Tân Bình (nay là phường Tây Thạnh, Q. Tân Phú) theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1421/2002 do Ủy ban nhân dân quận Tân Bình cấp ngày 21/5/2002 do ông Dương Gia Thụ và bà Trần Thị Thuận đứng tên đã thế chấp tại Ngân hàng để bảo lãnh cho bà Nguyễn Kim Lành vay tiền số 01.03.2005.0056 HĐBL/VCBTT ngày 08/4/2005 tại ngân hàng theo hợp đồng thế chấp tài sản để bảo lãnh vốn vay ngân hàng đã được Phòng công chứng Nhà nước số 04 TP. Hồ Chí Minh chứng nhận số 009716 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/4/2005, đăng ký giao dịch đảm bảo số 36/2005/UB STT ghi sổ 44 quyển số 01 ngày 11/4/2005 tại UBND P. Tây Thạnh Q. Tân Phú.

- Căn nhà số 137A Cộng Hòa, P.12 Q. Tân Bình theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 17631/2001 do Uy ban nhân dân TPHCM cấp ngày 29/8/2001 do ông Lã Xuân Hưng và bà Đặng Thị Ngọc Tuyền đứng tên đã thế chấp tại Ngân hàng để bảo lãnh cho bà Nguyễn Kim Lành vay tiền tại ngân hàng theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01.03.2004.0089 HĐBL/VCBTT ngày 27/7/2004 để bảo lãnh vốn vay ngân hàng đã được Phòng công chứng Nhà nước số 04 TP. Hồ Chí Minh chứng nhận số 021528 quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/4/2005, đăng ký giao dịch đảm bảo số 41-2004-012449 STT ghi sổ 12449 quyển số 63 ngày 30/7/2004 tại Trung tâm thông tin và đăng ký nhà đất TPHCM.

Tại các biên bản hòa giải ngày 25/01/2006, 09/02/2006, 15/3/2006 và 06/4/2006 và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn xác nhận về số nợ và lãi tạm tính đến ngày 24/5/2006 phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 018.003.04.000171TD/VCBTT ngày 12/7/2004 phụ lục hợp đồng số 01 ngày 07/4/2005 số tiền cả gốc và lãi 4.102.997.631 đồng như trình bày của nguyên đơn.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

Tại biên bản hòa giải ngày 06/4/2006 những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là:

Ông Dương Gia Thụ: Nếu Bà Nguyễn Kim Lành không trả được nợ thì tôi đồng ý phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà số 28/25 Trường Chinh, P.15 Q. Tân Bình (nay là phường Tây Thạnh, Q. Tân Phú) theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1421/2002 do Ủy ban nhân dân quận Tân Bình cấp ngày 21/5/2002 do ông Dương Gia Thụ và bà Trần Thị Thuận đứng tên đã thế chấp tại Ngân hàng để bảo lãnh cho bà Nguyễn Kim Lành vay tiền tại ngân hàng theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01.03.2005.0056 HĐBL/VCBTT ngày 08/4/2005 để bảo lãnh vốn vay ngân hàng đã được Phòng công chứng Nhà nước số 04 TP. Hồ Chí Minh chứng nhận số 009716 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/4/2005, đăng ký giao dịch đảm bảo số 36/2005/UB STT ghi sổ 44 quyển số 01 ngày 11/4/2005 tại UBND P. Tây Thạnh Q. Tân Phú.

Ông Lã Xuân Hưng, bà Đặng Thị Ngọc Tuyền : Đề nghị cho vợ chồng tôi thời hạn từ nay đến chậm nhất ngày 28/4/2006 chúng tôi sẽ cùng với bà Nguyễn Kim Lành thu xếp trả nợ cho ngân hàng. Nếu bà Nguyễn Kim Lành không trả được nợ thì chúng tôi đồng ý phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà số 137A Cộng Hòa, P.12 Q. Tân Bình theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 17631/2001 do Uy ban nhân dân TPHCM cấp ngày 29/8/2001 do ông Lã Xuân Hưng và bà Đặng Thị Ngọc Tuyền đứng tên đã thế chấp tại Ngân hàng để bảo lãnh cho bà Nguyễn Kim Lành vay tiền tại ngân hàng theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01.03.2004.0089 HĐBL/VCBTT ngày 27/7/2004 để bảo lãnh vốn vay ngân hàng đã được Phòng công chứng Nhà nước số 04 TP. Hồ Chí Minh chứng nhận số 021528 quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/4/2005, đăng ký giao dịch đảm bảo số 41-2004-012449 STT ghi sổ 12449 quyển số 63 ngày 30/7/2004 tại Trung tâm thông tin và đăng ký nhà đất TPHCM.

Bà Trần Thị Thuận: Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, nhiều lần triệu tập làm việc, hoà giải và dự phiên toà nhưng đều vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Quan hệ giữa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (CN Khu chế xuất Tân Thuận) và bà Nguyễn Kim Lành là quan hệ kinh doanh thương mại giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục Tòa án. Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền được qui định tại các điều 29, 34, 35 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Toà án đã triệu tập hoà giải vào các ngày 25/01/2006, 09/02/2006,15/3/2006 và 06/4/2006 nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Thuận đều vắng mặt, vì vậy việc hoà giải không thể tiến hành được.

Toà án đã triệu tập hợp lệ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng tại phiên toà vào ngày 03/5/2006 và ngày 24/5/2006 nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Gia Thụ và bà Trần Thị Thuận đều vắng mặt không lý do. Nguyên đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 200 và Điều 215 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về các yêu cầu của các đương sự:

Xét các yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 018.003.04.000171TD/VCBTT ngày 12/7/2004 và phụ lục hợp đồng số 01 ngày 07/4/2005 là: 4.102.997.631 đồng, bao gồm nợ gốc 3.397.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 24/5/2006 là 705.997.631 đồng và lãi sẽ được tiếp tục tính trên số nợ gốc với mức lãi suất 0,984%/tháng kể từ ngày 25/5/2006 cho đến khi trả hết nợ gốc. Hội đồng xét xử có nhận định như sau: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai nhận của các bên đương sự có cơ sở để xác định bị đơn còn nợ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (CN Khu chế xuất Tân Thuận) tiền gốc và tiền lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng  là vi phạm hợp đồng, điểm c, khoản 2 điều 56 Luật các tổ chức tín dụng nên việc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (CN Khu chế xuất Tân Thuận) đòi trả hết số nợ là phù hợp với qui định của pháp luật hiện hành.
 
Để đảm bảo cho hợp đồng vay các bên đã làm thủ tục thế chấp tài sản theo qui định của pháp luật các tài sản nên việc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (CN Khu chế xuất Tân Thuận) yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp nói trên để thu hồi nợ  là phù hợp với qui định của pháp luật hiện hành qui định tại điều 359 bộ Luật dân sự nên yêu cầu này cần được chấp nhận.

Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bà Nguyễn Kim Lành không trả được nợ, Hội đồng xét xử có nhận định như sau: Để đảm bảo cho hợp đồng vay các bên đã làm thủ tục thế chấp tài sản theo qui định của pháp luật các tài sản:

- Căn nhà số 28/25 Trường Chinh, P.15 Q. Tân Bình nay là phường Tây Thạnh, Q. Tân Phú) theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1421/2002 do Uy ban nhân dân quận Tân Bình cấp ngày 21/5/2002 do ông Dương Gia Thụ và bà Trần Thị Thuận đứng tên đã thế chấp tại Ngân hàng để bảo lãnh cho bà Nguyễn Kim Lành vay tiền tại ngân hàng theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01.03.2005.0056 HĐBL/VCBTT ngày 08/4/2005 để bảo lãnh vốn vay ngân hàng đã được Phòng công chứng Nhà nước số 04 TP. Hồ Chí Minh chứng nhận số 009716 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/4/2005, đăng ký giao dịch đảm bảo số 36/2005/UB STT ghi sổ 44 quyển số 01 ngày 11/4/2005 tại UBND P. Tây Thạnh Q. Tân Phú;

- Căn nhà số 137A Cộng Hòa, P.12 Q. Tân Bình theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 17631/2001 do Uy ban nhân dân TPHCM cấp ngày 29/8/2001 do ông Lã Xuân Hưng và bà Đặng Thị Ngọc Tuyền đứng tên đã được Phòng công chứng Nhà nước số 04 TP. Hồ Chí Minh chứng nhận số 021528 quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/4/2005, đăng ký giao dịch đảm bảo số 41-2004-012449 STT ghi sổ 12449 quyển số 63 ngày 30/7/2004 tại Trung tâm thông tin và đăng ký nhà đất TPHCM;

Nên việc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (CN Khu chế xuất Tân Thuận) yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp nói trên để thu hồi nợ cho ngân hàng nếu bà Nguyễn Kim Lành không trả được nợ là phù hợp với qui định của pháp luật hiện hành qui định tại điều 359 bộ Luật dân sự nên yêu cầu này cần được chấp nhận.

3. Về án phí: bà Nguyễn Kim Lành phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 19 Nghị định 70-CP ngày 14-6-1997 của Chính Phủ, tính trên số tiền phải thanh toán là 4.102.997.631 đồng. Tiền án phí là 31.102.000 đồng.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 29, 34, 35 Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điều 359, các khoản 1, 5 điều 471 Bộ luật dân sự;

Căn cứ điều 52 luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 19 Nghị định 70-CP ngày 14-6-1997 của Chính Phủ;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn

Buộc bị đơn, bà Nguyễn Kim Lành phải trả cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (CN Khu chế xuất Tân Thuận) số tiền còn nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 018.003.04.000171TD/VCBTT ngày 12/7/2004 và phụ lục hợp đồng số 01 ngày 07/4/2005 là: 4.102.997.631 đồng, bao gồm nợ gốc 3.397.000.000 đồng và nợ lãi tạm tính đến ngày 24/5/2006 là 705.997.631 đồng.

Lãi sẽ được tiếp tục tính kể từ ngày 25/5/2006 trên số nợ gốc thực nợ với mức lãi suất 0,984%/tháng cho đến khi thực trả hết nợ gốc.

Nếu bà Nguyễn Kim Lành không trả được nợ thì phải chịu các biện pháp cưỡng chế theo qui định của pháp luật kể cả việc phát mãi các tài sản thế chấp là:

- Căn nhà số 28/25 Trường Chinh, P.15 Q. Tân Bình nay là phường Tây Thạnh, Q. Tân Phú) theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1421/2002 do Uy ban nhân dân quận Tân Bình cấp ngày 21/5/2002 do ông Dương Gia Thụ và bà Trần Thị Thuận đứng tên chủ sở hữu.

- Căn nhà số 137A Cộng Hòa, P.12 Q. Tân Bình theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 17631/2001 do Uy ban nhân dân TPHCM cấp ngày 29/8/2001 do ông Lã Xuân Hưng và bà Đặng Thị Ngọc Tuyền đứng tên chủ sở hữu.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Kim Lành phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 31.102.000 (ba mươi mốt triệu một trăm lẻ hai nghìn) đồng, nộp tại Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (CN Khu chế xuất Tân Thuận) được nhận lại số tiền 16.072.841 (mười sáu triệu không trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm bốn mốt) đồng là tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 000784 ngày 25/11/2005 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết./.


140
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 226/2006/KDTM-ST ngày 24/05/2006 về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại

Số hiệu:226/2006/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:24/05/2006
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về