Bản án 227/2006/KDTM-ST ngày 24/05/2006 về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 227/2006/KDTM-ST NGÀY 24/05/2006 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI 

Ngày 24 tháng 5 năm 2006 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ án thụ lý số:136/KTST, ngày 27 tháng 02 năm 2006 về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 853/QĐ- ĐXX ngày 03 tháng 5 năm 2006 giữa các đương sự:

1. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – (CN TPHCM)

Địa chỉ: 2 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Đại diện: ông Đặng Việt Cường – giấy UQ số 492 ngày 06/3/2006

2. Bị đơn: Công ty TNHH công nghiệp và thương mại Hoàng Nguyên

Địa chỉ: 21/5 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đakao, quận 1, TPHCM

Đại diện: Bà Nguyễn Thị Hồng Vinh, Giám đốc

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng Vinh và ông Đinh Quang Trung. (Ông Đinh Quang Trung vắng mặt.)

Cùng có địa chỉ: 21/5 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đakao, quận 1, TP. HCM

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện đề ngày 24/01/2006, biên bản hoà giải ngày 10/4/2006 và tại phiên tòa nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – (CN TPHCM) trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn là Công ty TNHH công nghiệp và thương mại Hoàng Nguyên có giao kết hợp đồng kinh doanh thương mại về tín dụng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, nên nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán số nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số N2XD3269/HĐTD ngày 01/8/20003 số tiền là 5.177.920.000 đồng, trong đó: nợ gốc là 4.400.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 24/5/2006 là 777.920.000 đồng, (bao gồm: Lãi trong hạn: tính từ ngày 03/02/2005 đến ngày 01/8/2005 với mức lãi suất 0,85%/tháng là 224.400.000 đồng và lãi quá hạn: tính từ ngày 02/8/2005 đến ngày 24/5/2006 với mức lãi suất 1,275%/tháng là 553.520.000 đồng). Lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 25/5/2006 theo mức lãi suất 1,275%/tháng trên số dư nợ gốc cho đến khi thực trả hết nợ.

Nếu bị đơn không thanh toán được nợ thì phải chịu các biện pháp cưỡng chế theo qui định của pháp luật kể cả việc phát mãi tài sản thế chấp đã được công chứng số 023152 ngày 01/8/2003 là căn nhà số 793/28/1/12 khu phố 4, P. Tân Hưng, Q.7, TP. HCM do bà Nguyễn Thị Hồng Vinh và ông Đinh Quang Trung đứng tên chủ sở hữu.

Tại biên bản hòa giải ngày 10/4/2006 và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn trình bày: Hợp đồng tín dụng số N2XD3269/HĐTD ngày 01/8/20003 do bà Nguyễn Thị Thanh Loan là phó giám đốc công ty ký, bà Loan ký nhận tiền nhưng không đem về công ty. Hiện nay, công ty chúng tôi đã có đơn gửi đến PC 15 công an Hà Nội yêu cầu làm rõ hành vi nói trên của bà Loan. Nhưng đến nay cơ quan công an chưa có quyết định khởi tố vụ án. Xác nhận còn nợ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh TPHCM số tiền nợ gốc và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng số N2XD3269/HĐTD ngày 01/8/20003 là 5.177.920.000 đồng như nguyên đơn trình bày.

Tại biên bản hòa giải ngày 10/4/2006 và tại phiên toà người có quyền và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Hồng Vinh trình bày: xác nhận đã ký bảo lãnh cho công ty Hòang Nguyên vay tại ngân hàng bằng căn nhà số 793/28/1/12 khu phố 4, P. Tân Hưng, Q.7, TP. HCM do bà Nguyễn Thị Hồng Vinh và ông Đinh Quang Trung đứng tên chủ sở hữu đã được công chứng số 023152 ngày 01/8/2003. Tuy nhiên, không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thẩm quyền: Quan hệ giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Công ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Hoàng Nguyên là quan hệ kinh doanh thương mại giữa pháp nhân với pháp nhân, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục Tòa án. Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền được qui định tại các điều 29, 34, 35 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Toà án đã triệu tập hợp lệ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng tại phiên toà vào các ngày 03/5/2006 và ngày 24/5/2006 nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Quang Trung đều vắng mặt. Nguyên đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Đinh quang Trung theo quy định tại khoản 2 Điều 200 và Điều 215 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về các yêu cầu của các đương sự:

Xét các yêu cầu của nguyên đơn:

Về yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số N2XD3269/HĐTD ngày 01/8/20003 số tiền là 5.177.920.000 đồng, trong đó:

- Nợ gốc: 4.400.000.000 đồng

- Lãi: tạm tính đến ngày 24/5/2006 là 777.920.000 đồng, trong đó:

+ Lãi trong hạn: tính từ ngày 03/02/2005 đến ngày 01/8/2005 với mức lãi suất 0,85%/tháng là 224.400.000 đồng.

+ Lãi quá hạn: tính từ ngày 02/8/2005 đến ngày 24/5/2006 với mức lãi suất 1,275%/tháng là 553.520.000 đồng.

Lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 25/5/2006 theo mức lãi suất 1,275%/tháng trên số dư nợ gốc cho đến khi thực trả hết nợ.

Theo các chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai nhận của các bên đương sự, đủ cơ sở để xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số nợ như nguyên đơn đã yêu cầu; việc bị đơn không thanh toán nợ là vi phạm Hợp đồng tín dụng; điểm c, khoản 2 điều 56 luật các tổ chức tín dụng. Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc thanh toán nợ gốc và lãi là phù hợp với quy định pháp luật tại các khoản 1, 5 điều 471 và điều 475 Bộ luật dân sự, cần được chấp nhận.

Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng được Phòng Công chứng số 1 chứng nhận. Các bên đã tiến hành các thủ tục bảo lãnh, thế chấp đúng theo quy định pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng bảo lãnh và quy định của pháp luật tại điều 359 Bộ luật dân sự, nên yêu cầu này cần được chấp nhận.

Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà số 793/28/1/12 khu phố 4, P. Tân Hưng, Q.7, TP. HCM do bà Nguyễn Thị Hồng Vinh và ông Đinh Quang Trung đứng tên chủ sở hữu: Xét thấy, ngày 31/7/2003 bà Nguyễn Thị Hồng Vinh và ông Đinh Quang Trung đã ký Hợp đồng bảo lãnh số 733/HĐBL với nội dung bà Nguyễn Thị Hồng Vinh và ông Đinh Quang Trung dùng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình là căn nhà số 793/28/1/12 khu phố 4, P. Tân Hưng, Q.7, TP. HCM để bảo lãnh cho công ty TNHH Hoàng Nguyên vay số tiền 4.400.000.000 đồng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, hợp đồng được Phòng Công chứng số 1 chứng nhận số 023152 ngày 01/8/2003. Các bên đã tiến hành các thủ tục bảo lãnh, thế chấp đúng theo quy định pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng bảo lãnh số 733/HĐBL và quy định của pháp luật tại điều 359 Bộ luật dân sự, nên yêu cầu này cần được chấp nhận.

Xét yêu cầu của bị đơn về việc không đồng ý trả nợ với lý do hợp đồng tín dụng số N2XD3269/HĐTD ngày 01/8/20003 do bà Nguyễn Thị Thanh Loan là phó giám đốc công ty ký, bà Loan ký nhận tiền nhưng không đem về công ty, Hội đồng xét xử có nhận định như sau: Xét thấy, theo Biên bản họp Hội đồng thành viên số 267/CV-HN ngày 26/7/2003 thì Hội đồng thành viên công ty Hoàng Nguyên đã nhất trí việc vay vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với số vốn vay cao nhất là 4.400.000.000 đồng, đồng thời ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thanh Loan thực hiện ký kết tất cả các giao dịch với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Như vậy, việc bà Loan ký kết hợp đồng tín dụng số N2XD3269/HĐTD cũng như ký nhận tiền là phù hợp với quy định tại điều 9 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, Điều 6 Nghị định 17- HĐBT, điều 151, 585 Bộ Luật dân sự. Việc công ty Hoàng Nguyên từ chối trách nhiệm trả nợ là trái với các quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, Điều 471, khoản 2 Điều 591 Bộ Luật dân sự. Vì vậy không có cơ sở để chấp nhận.

Về đề nghị Toà án dừng xét xử vụ việc do hiện nay công ty Hoàng Nguyên đang có đơn đề nghị Cơ quan Điều tra Hà Nội xem xét trách nhiệm của bà Nguyễn Thị Thanh Loan: xét thấy, tại phiên tòa đại diện của bị đơn thưà nhận Công an Hà Nội chưa có quyết định khởi tố và cho đến nay Toà án chưa nhận được bất cứ Quyết định khởi tố vụ án nào liên quan đến vụ án mà Tòa án đang giải quyết, vì vậy không có cơ sở để tạm dừng việc giải quyết vụ án.

Xét yêu cầu của người có quyền, nghĩa vụ liên quan về việc không đồng ý phát mãi tài sản bảo lãnh để trả nợ cho Ngân hàng: Xét thấy yêu cầu này trái với quy định tại Điều 359 Bộ Luật dân sự cũng như trái với thỏa thuận tại Hợp đồng bảo lãnh số 733/HĐBL vì vậy không có cơ sở để chấp nhận.

3. Về án phí: Công ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Hoàng Nguyên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 19 Nghị định 70-CP ngày 14-6-1997 của Chính Phủ, tính trên số tiền phải thanh toán là 5.177.920.000 đồng. Tiền án phí là 32.176.000 đồng.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 29, 34, 35 Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các khoản 1, 5 Điều 471, các Điều 151, 359, ,585 và Điều 591 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 19 Nghị định 70-CP ngày 14-6-1997 của Chính Phủ;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn:

Công ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Hoàng Nguyên phải trả cho ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số N2XD3269/HĐTD ngày 01/8/20003 là 5.177.920.000 đồng, bao gồm:

- Nợ gốc: 4.400.000.000 đồng

- Lãi: 777.920.000 đồng

Lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 25/5/2006 theo mức lãi suất 1,275%/tháng trên số dư nợ gốc cho đến khi thực trả hết nợ gốc.

Nếu Công ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Hoàng Nguyên không trả được nợ thì phải chịu các biện pháp cưỡng chế theo qui định của pháp luật kể cả việc phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà số 793/28/1/12 khu phố 4, P. Tân Hưng, Q.7, TP.HCM do bà Nguyễn Thị Hồng Vinh và ông Đinh Quang Trung đứng tên chủ sở hữu.

2. Về án phí:

Công ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Hoàng Nguyên phải nộp án phí sơ thẩm là 32.176.000 (ba mươi hai triệu một trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng;

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (CN TP. HCM) được nhận lại 15.922.530 (mười lăm triệu chín trăm hai mươi hai nghìn năm trăm ba mươi) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 001371 ngày 24/02/2006 của Thi hành án dân sự TP. HCM.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết./.


156
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 227/2006/KDTM-ST ngày 24/05/2006 về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại

Số hiệu:227/2006/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:24/05/2006
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về