Bản án 229/2017/DSST ngày 16/05/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 229/2017/DSST NGÀY 16/05/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 16 tháng 5 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 605/2016/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2016 về việc : “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 390/2017/QĐXX-DS ngày 07 tháng 4 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số: 484/2017/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T

Trụ sở: Lầu 8, 266 N, Phường Q, Quận R, TP. Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

Ông K –Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn.

Trụ sở: Lầu 8, 266 N, Phường Q, Quận R, TP. Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông M, sinh năm 1970

Địa chỉ 11 KP2A Phường Đ, Quận Q, TP. Hồ Chí Minh

(Theo văn bản ủy quyền số: 318/2017/UQ-TTT ngày 01/01/2017). (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông H, sinh năm 1987

Địa chỉ: 106 K, Phường E, quận G , TP. Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 11/11/2016, bản tự khai và các lần làm việc tại Tòa án, ông M đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 24/11/2011 ông H có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn T ( gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm: giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 14.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông H đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 21.000.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt đến nay ông H đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 24.420.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán( Điều 2 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng) nên ngày 23/02/2015, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang dư nợ quá hạn( Điều 23 của bản điều khoản và điều kiên phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Vì vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền tạm tính tới ngày 07/11/2016 là 21.847.271 đồng, trong đó:

- Nợ gốc : 12.273.863 đồng.

- Lãi quá hạn: 9.573.408 đồng.

Và ông H phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 08/11/2016 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Tính đến ngày 21/4/2017, ông H còn nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T số tiền 24.378.701 đồng, trong đó:

- Nợ gốc: 12.273.863 đồng.

- Lãi quá hạn: 12.104.838 đồng.

Ông H phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/4/2017 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ và triệu tập ông H đến Tòa án để lấy lời khai nhưng ông H không đến. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của ông H tại địa chỉ 106/776 Nguyễn Kiệm, Phường 3, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh, Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp chứng cứ nơi cư ngụ của ông H, tuy nhiên ông H chuyển đi ở nơi khác không thông báo cho Ngân hàng, vì vậy đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T yêu cầu Tòa án niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng của ông Đố Minh H tại địa chỉ chỉ 106/776 Nguyễn Kiệm, Phường 3, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh để xét xử vắng mặt ông H.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H không đến , vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của tòa án cho ông H hợp lệ theo quy định pháp luật vì vậy Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo pháp luật quy định.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T do ông M là đại diện theo ủy quyền vẫn giữ yêu cầu buộc ông H phải trả số tiền 24.378.701 đồng, tính đến ngày 21/4/2017, trong đó:

- Nợ gốc: 12.273.863 đồng.

- Lãi quá hạn: 12.104.838 đồng.

Ông H phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/4/2017 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông H là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

*Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

-Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi xét xử thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng và đầy đủ nội dung quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa nhưng người tham gia tố tụng, đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải. Thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T là 24.378.701 đồng, trong đó gồm:

- Tiền nợ gốc là 12.273.863 đồng;

- Lãi quá hạn là 12.104.838 đồng.

Ông H phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 22/4/2017 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng

Đương sự phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết :

Nguyên đơn Ngân hàng hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T khởi kiện bị đơn ông H về yêu cầu trả số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 24/11/2011 được ký kết giữa hai bên. Bị đơn ông H có nơi cư trú cuối cùng tại chỉ 106/776 Nguyễn Kiệm, Phường 3, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 3Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35,  điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng : Bị đơn ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm  2015.

2. Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/10/2011 đã ký giữa Ngân hàng hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T với ông H cho thấy việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là có thật. Nội dung các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật tại các Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông H với hạn mức 14.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ, ông H đã thực hiên giao dịch với tổng số tiền là 21.000.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 24.420.000 đồng còn lại nợ gốc là 12.273.863 đồng. Tuy nhiên kể từ ngày 22/11/2014, ông H không thanh toán thêm cho ngân hàng bất kì khoản tiền nào.Ông H đã vi phạm nghĩa vụ về thời gian thanh toán nợ gốc theo như hợp đồng đã ký kết vì vậy yêu cầu của Ngân hàng buộc ông H phải trả số tiền nợ gốc là 12.273.863 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nợ lãi:

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 17/6/2010 quy định “… Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ tại Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa các bên là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo đó bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi là tính đến ngày 21/4/2017 là 12.104.838 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ nộp án phí và Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Hoàn trả 546.182.000 đồng tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí tương đương với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận là 24.378.701 đồng . Do đó bị đơn phải chịu án phí là 1.218.935 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 219, Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015;

- Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 17/6/2010;

- Áp dụng 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận;

- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

- Áp dụng Pháp lệnh số10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn T số tiền 24.378.701 ( Hai mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi tám ngàn bảy trăm lẻ một) đồng, trong đó gồm: Tiền nợ gốc là 12.273.863 đồng; lãi quá hạn là 12.104.838 đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông H còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh trên tổng số nợ gốc kể từ ngày 22/4/2017 cho đến khi thanh toán xong theo như lãi suất hợp đồng được ký ngày 24/11/2011 (gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) .

Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.218.935( Một triệu hai trăm mười tám ngàn chín trăm ba mươi lăm) đồng.

Hoàn lại 546.182 ( Năm trăm bốn mươi sáu ngàn một trăm tám mươi hai ) đồng tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn theo biên lai thu số 0017343 ngày 23/11/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.

3.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện  thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương.


75
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về