Bản án 23/2018/HSST ngày 20/03/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 23/2018/HSST NGÀY 20/03/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2018/TLST – HS ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXXST ngày 06 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo :

Phạm Văn T, sinh ngày 26 tháng 01 năm 1977 Nơi cư trú: thôn 2 , xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình

Nghề nghiệp: Lao động tự do ;  

Trình độ văn hóa : 5/12 ;     

Dân tộc: Kinh 

Giới tính: Nam ;     

Tôn giáo : Không ;     

Quốc tịch: Việt Nam

Con ông Phạm Văn P, sinh năm 1947 và con bà Nguyễn Thị G ( đã chết ) Có vợ là Đỗ Thị D, sinh năm 1976, bị cáo có 02 con ( Con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2016 ) 

Tiền án : Không     

Tiền sự: Không

Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi cho ăn học hết lớp 5/12, sau đó nghỉ học ở nhà lao động tự do. Tại bản án số 35/2009/HSPT ngày 29/4/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 07 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Bản án này bị cáo đã chấp hành xong và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2017 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Thái Bình.                                 

( Có mặt )

- Những người có quyền và nghĩa vụ liên quan

Anh : Nguyễn Thành T, sinh năm 1991, Trú tại: thôn Đ, xã T1, huyện T, tỉnh Thái Bình                          

( Vắng mặt )

Anh: Trần Đình T, sinh năm 1996, Trú tại: thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình

( Vắng mặt )

- Những người làm chứng

Anh : Phạm Văn T, sinh năm 1976, Trú tại: thôn 2 , xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình                       

( Vắng mặt )

Ông: Phạm Quý T, sinh năm 1954, Trú tại: thôn 2 , xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình

( Vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên khoảng 14 giờ ngày 01/11/2017, Phạm Văn T đi xe ô tô lên khu vực cầu Bo thành phố Thái Bình gặp và mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ 03 gói ma túy loại Hêrôin với giá 300.000 đồng rồi đem về nhà chia thành 05 gói nhỏ, T đã sử dụng hết 03 gói. Đến khoảng 18 ngày 02/11/2017, T đang ở nhà thì Nguyễn Thành T và Trần Đình T đến gặp T. Nguyễn Thành T hỏi “ Anh bán cho em 200.000 đồng ma túy” và đưa cho T 200.000 đồng, T nhận tiền cất vào túi áo ngực bên trái và lấy 02 gói ma túy đưa cho Nguyễn Thành T, Nguyễn Thành T nhận 02 gói ma túy cất vào túi quần bên trái đang mặc thì bị tổ công tác Công an huyện Thái Thụy tuần tra phát hiện bắt quả tang.

Cơ quan công an huyện Thái Thụy đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý và niêm phong vật chứng gửi giám định Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 18/ CT- VKSTT ngày 09 tháng 02 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố Phạm Văn T về tội " Mua bán trái phép chất ma túy " theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, Điều 33, Điều 45, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự  xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng : Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản quản lý vật chứng, biên bản niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

- Tại bản kết luận giám định số 425/KLGĐ – PC 54 ngày 03/11/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận “ Mẫu A1 gửi giám định thu giữ của Phạm Văn T là ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng là 0,0352 gam Như vậy đủ căn cứ để xác định : Khoảng 18 giờ ngày 02/11/2017, tại nhà ở của Phạm Văn T ở thôn 2 , xã  P, huyện T, tỉnh Thái Bình, T đã có hành vi bán trái phép 02 gói ma túy loại Hêrôin có trọng lượng 0,0352 gam cho Nguyễn Thành T lấy 200.000 đồng thì bị Công an huyện Thái Thụy phát hiện bắt quả tang. Hành vi đó của Phạm Văn T đã phạm vào tội " Mua bán trái phép chất ma túy " quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 194 Bộ luật hình sự quy định: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

………………………………………………………………………

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định từ một năm đến năm.

Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy :

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, làm khánh kiệt về kinh tế, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội này, do đó cần phải quyết định một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Về tình tiết tăng nặng : Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào

- Về tình tiết giảm nhẹ : Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo phấn đấu trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

Về nguồn gốc số ma túy, T khai mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng ở khu vực cầu Bo thành phố Thái Bình nên cơ quan công an huyện Thái Thụy không có cơ sở để điều tra, xác minh xử lý.

Đối với hành vi đi mua ma túy về để sử dụng của Nguyễn Đình T và Trần Đình T, kết luận giám định xác định trọng lượng ma túy không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Thái Thụy đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thành T và Trần Đình T  là đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

Số ma túy cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo có trọng lượng 0,0352 gam, sau khi lấy mẫu giám định còn lại là 0,0290 gam. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy

Cơ quan điều tra đã quản lý của bị cáo số tiền 200.000 đồng, đây là số tiền Nguyễn Đình T mua ma túy của bị cáo và là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố :

Bị cáo Phạm Văn T phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy"

2. Về hình phạt :

- Áp dụng khoản 1 Điều 194, Điều 33, Điều 45, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/11/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ 0,0290 gam Hê rôin còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định thu giữ của Phạm Văn T.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo do phạm tội mà có

( Tất cả vật chứng như trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữ cơ quan công an và Chi cục thi hành án huyện Thái Thụy ngày 09 tháng 02 năm 2018 )

5.  Về  án  phí:  Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về Án phí, Lệ phí Tòa án

Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .

6. Về quyền kháng cáo bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


44
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về