Bản án 23/2018/HS-ST ngày 31/08/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 23/2018/HS-ST NGÀY 31/08/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 31 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2018/TLST- HS ngày 03 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Vũ Đình N, sinh ngày 02/01/1998; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Thượng, xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp:

Lao động tự do; Văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Vũ Đình Thịnh, sinh năm 1969; Mẹ đẻ: Đoàn Thị Liên, sinh năm 1968; Vợ, con: chưa có; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền sự: Ngày 10/8/2017, Công an xã Liên Sơn quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Tiền án: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại:

1. Ông Ngô Tấn Đ, sinh năm 1943 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Thượng, xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

2. Bà Dương Thị T, sinh năm 1953 (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà Thư là ông Ngô Tấn Đ theo giấy ủy quyền ngày 10/4/2018.

Đều cư trú: Thôn Thượng, xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

*Người làm chứng:

1. Anh Vũ Đình H, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Thượng, xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

2. Ông Đoàn Thanh B, sinh năm 1955 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Thượng, xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 31/03/2018, Vũ Đình N - sinh năm 1998, trú tại thôn Thượng, xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang một mình đi bộ từ nhà đến khu vực nhà ở của gia đình ông Ngô Tấn Đ - sinh năm 1943 ở cùng thôn mục đích trộm cắp thùng nuôi ong lấy mật của gia đình ông Đ, N biết nhà ông Đ nuôi ong lấy mật. N đi theo đường bê tông của thôn Thượng, xã Liên Sơn đến khu vực bờ tường rào phía Đông của gia đình ông Đ, quan sát xung quanh không có người nên N đã sử dụng hai tay bám lên đỉnh bờ tường rào rồi đặt một chân lên bờ tường lấy đà trèo lên đỉnh bờ tường và nhảy vào bên trong khu vực nhà ở của gia đình ông Đ, khu vực vườn nơi ông Đ đặt các thùng ong nuôi lấy mật. Khi vào bên trong vườn của gia đình ông Đ, N quan sát thấy trong vườn có đặt nhiều thùng nuôi ong lấy mật bằng gỗ có kích thước (54 x 34 x 30)cm, Ninh đi đến gần thùng ong đặt gần phía bờ tường chỗ N trèo vào, dùng hai tay bê thùng ong này mang đến sát bờ tường rồi đặt thăng bằng trên đỉnh trụ cột của bờ tường. Sau đó, N buông tay ra khỏi thùng ong, dùng hai tay bám và trèo lên trên đỉnh bờ tường. N ngồi trên đỉnh bờ tường, dùng hai tay nhấc thùng ong đã đặt trên đỉnh trụ bờ tường lên và đặt thăng bằng trên đỉnh mặt bờ tường. Khi thùng ong được đặt cân trên mặt bờ tường, N nhảy xuống đường bê tông của thôn và dùng hai tay đợ thùng ong trên đỉnh bờ tường xuống rồi bê thùng ong đi theo đường bê tông của thôn về nhà N. Khi về đến nhà, N đặt thùng ong vừa trộm cắp được của gia đình ông Đạt ở ngoài vườn gần đầu nhà ở của gia đình N. Sau đó, vẫn bằng cách thức như trên, N tiếp tục trộm cắp 02 thùng ong gần phía bờ tường chỗ N trèo vào của gia đình ông Đ mang về để ở vườn nhà N.

Khoảng 5 giờ 40 phút cùng ngày, ông Đ đi kiểm tra ong nuôi trong vườn phát hiện bị mất 3 thùng ong nên đã đi xung quanh xóm để tìm. Khi ông Đ đi tìm đến khu vực nhà ở của gia đình N thì phát hiện thấy tại vườn của gia đình N có 03 thùng ong có đặc điểm giống với 3 thùng ong của gia đình ông đã bị mất. Ông Đ hỏi N thì N đã thừa nhận 03 thùng ong này là do N đã trộm cắp của gia đình ông Đ.

Ông Đ yêu cầu N mang 03 thùng ong trả lại cho gia đình ông nhưng khi N đang chuẩn bị mang 03 thùng ong trả lại cho gia đình ông Đ thì ông Đ gọi điện trình báo nội dung vụ việc với Công an xã Liên Sơn, do sợ nên N đã bỏ chạy. Hồi 6 giờ 30 phút ngày 31/3/2018, Công an xã Liên Sơn đã đến gia đình Vũ Đình N thu giữ 03 thùng nuôi ong bằng gỗ có kích thước (54 x 34 x 30)cm, bên trong 01 thùng có 04 cầu ong và 02 thùng có 05 cầu ong, sau đó tạm giao 03 thùng ong này cho ông Ngô Tấn Đ quản lý và chăm sóc.

Ngày 05/7/2018, Cơ quan điều tra đã tổ chức thực nghiệm điều tra cho Vũ Đình N diễn lại hành vi trộm cắp của N đối với 03 thùng ong mà N đã trộm cắp của gia đình ông Ngô Tấn Đ ngày 31/3/2018. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội như lời khai của N đã khai trong quá trình điều tra.

Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-ĐGTS ngày 19/04/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Yên định giá:

+ 14 cầu ong (đã cho thu mật) x 120.000 đồng= 1.680.000 đồng.

+ 03 thùng nuôi ong lấy mật bằng gỗ x 100.000 đồng= 300.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 1.980.000 đồng (một triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng chẵn).

Với nội dung vụ án như trên, tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 03/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Vũ Đình Ninh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo N thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại anh Ngô Tấn Đ, bà Dương Thị T, bà Thư ủy quyền cho ông Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai như sau: Ngày 31/3/2018 gia đình ông có bị mất 03 thùng ong, đặc điểm các thùng ong như bị cáo N khai. Ngày 10/7/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã quyết định xử lý vật chứng trả lại 03 thùng ong trên cho ông quản lý, sử dụng. Đến nay, ông không yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường thiệt hại (BL số 72-75).

Người là chứng anh Vũ Đình H, ông Đoàn Thanh B vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai như sau: Ông B là trưởng thôn Thượng, anh H là anh trai của bị cáo N đều khai được mời chứng kiến sự việc và vật chứng của vụ án như bị cáo N khai là đúng và không có ý kiến gì khác (BL số 79-85).

Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vũ Đình N và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vũ Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Vũ Đình N từ 06 đến 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Về án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Người bị hại là ông Ngô Tấn Đ, bà Dương Thị T. Người làm chứng anh Vũ Đình H, ông Đoàn Thanh B đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy họ đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ của vụ ánđã rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo N tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Yên, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 31/03/2018, tại khu vực nhà ở của gia đình ông Ngô Tấn Đ, sinh năm 1943 ở Thôn Thượng, xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, bị cáo N đã có hành vi lén lút trộm cắp của gia đình ông Đ 03 thùng ong nuôi lấy mật trị giá 1.980.000 đồng. Bị cáo N ngày 10/8/2017 Công an xã Liên Sơn đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 31/3/2018 bịcáo lại có hành vi trộm cắp tài sản tuy giá trị tài sản trộm cắp kết luận chỉ có 1.980.000 đồng. Nhưng hành vi của bị cáo N lần này là tình tiết định tội. Với hành vi nêu trên của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã có hành vi lợi dụng sơ hở của người bị hại để chiếm đoạt tài sản, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự anh ninh tại địa phương. Vì vậy, vụ án cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[4] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn thuộc hộ nghèo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo N. Hội đồng xét xử thấy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Không có.

Từ những phân tích trên, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo với xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.

Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định phạt bổ sung bằng tiền,tuy nhiên xét thấy bị cáo N không có nghề nghiệp ổn định, hiện sống chung cùngbố mẹ, không có tài sản riêng, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 10/7/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã quyết định xử lý vật chứng trả lại 03 thùng ong trên cho ông Đ quản lý, sử dụng. Đến nay, ông Đ không yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về vật chứng của vụ án: 03 thùng nuôi ông bằng gỗ có kích thước (54x34x30) cm bên trong một thùng có 04 cầu ong và 02 thùng có 05 cầu ong, đã giao 03 thùng ong này cho ông Ngô Tấn Đ quản lý và chăm sóc. nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo N thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người bị hại kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Đình N 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

[4] Về vật chứng: Không có, không đặt ra xem xét.

[5]Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vũ Đình N.

[6] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2018/HS-ST ngày 31/08/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:23/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Yên - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về