Bản án 23/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 23/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/05/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 08 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXX-ST ngày 02 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hà Cẩm G, sinh năm 1992, thường trú: Ấp B, thị trấn C, huyện P, tỉnh H; tạm trú: Số nhà D6D, khu phố B, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1978, thường trú: Ấp B, thị trấn C, huyện P, tỉnh H; tạm trú: Số nhà 1/3, khu phố H, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Hà Cẩm G trình bày:

Bà Hà Cẩm G và ông Phạm Thanh T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2011, đăng ký kết hôn ngày 27/4/2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38/2011, quyển số 01/2010.

Bà Hà Cẩm G xác định, sau khi kết hôn bà G và ông T sống với nhau được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn nên bà G về nhà cha mẹ ruột ở Sóc Trăng sống, lúc này bà G đang mang thai, còn ông T vẫn sống ở nhà cha mẹ ông T tại Hậu Giang, hai vợ chồng không sống chung với nhau. Khi bà G sinh con, ông T không phụ giúp bà G về vật chất lẫn tinh thần. Đến khi con chung được khoảng 3 tuổi, được chị chồng khuyên nên ông T và bà G lên Bình Dương thuê nhà trọ sống chung và đi làm nhưng khi sống cùng nhau thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông T liên tục chửi mắng bà G vì bất cứ lý do nhỏ nhặt gì, thậm chí ông T còn đánh bà G rất nhiều lần. Do đó, bà G bỏ nhà trọ đi chỗ khác ở và từ đó đến nay được khoảng 04 năm, ông T và bà G sống ly thân, chuyện ai tự làm, ông T không hỗ trợ gì để nuôi con và không thăm con hay có lời gì hỏi thăm đến con. Nguyên nhân mâu thuẫn do khoảng cách tuổi giữa ông T và bà G, thời gian vợ chồng sống chung ít, quan điểm sống khác nhau, tình cảm vợ chồng không có vì quen biết qua giới thiệu được vài tháng là kết hôn. Bà G không thể tiếp tục duy trì hôn nhân được nữa nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông T.

Bà Hà Cẩm G và ông Phạm Thanh T chung sống với nhau có 01 con chung là Phạm Thế L, sinh ngày 27/6/2012. Sau khi ly hôn, bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và bà G không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông T không hàn gắn được, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà G được ly hôn với ông T; giao con chung là Phạm Thế L, sinh ngày 27/6/2012 cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; ghi nhận sự tự nguyện của bà G không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt theo đúng quy định. Bị đơn đã được Tòa án thông báo, niêm yết triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không cung cấp cho Tòa án chứng cứ, lời khai nào. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Hà Cẩm G và ông Phạm Thanh T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2011, đăng ký kết hôn ngày 27/4/2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38/2011, quyển số 01/2010 là hôn nhân hợp pháp.

Bà Hà Cẩm G xác định mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do khoảng cách tuổi, vợ chồng ít sống chung với nhau, quan điểm sống khác nhau, tình cảm vợ chồng không có, khi bà G về nhà cha mẹ ruột sống, mang thai và sinh con vẫn không sống cùng ông T, ông T không chăm lo vật chất lẫn tinh thần cho bà G và con. Xét thấy, quan hệ hôn nhân phải dựa trên nền tảng tình cảm vững chắc, sự tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng phải sống cùng nhau để nuôi dạy, chăm sóc con và cùng chung sức xây dựng gia đình nhưng quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà G không đạt được các yếu tố trên. Đối với ông T, khi đối mặt với nguy cơ tan vỡ gia đình thông qua việc bà G nộp đơn ly hôn và ông T được Tòa án nhiều lần thông báo, triệu tập nhưng ông T không đến Tòa án làm việc, hòa giải và tham gia phiên tòa, điều này thể hiện rõ ông T không có thiện chí hòa giải đoàn tụ với bà G, xây dựng gia đình hạnh phúc. Mặt khác, theo Biên bản xác minh ngày 27/02/2019 của Tòa án tại địa phương thể hiện rõ việc bà và ông T không sống cùng nhau khoảng 04 năm, ông T sống một mình. Do đó, bà G yêu cầu ly hôn với ông T là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà Hà Cẩm G xác định bà và ông Phạm Thanh T chung sống với nhau có 01 con chung là Phạm Thế L, sinh ngày 27/6/2012 theo giấy khai sinh số 36/2015, quyển số 01/2015, đăng ký ngày 11/3/2015. Theo bà G, từ khi mang thai, sinh con đến nay chỉ mình bà G tự chăm sóc bản thân, nuôi dạy con, ông T không chăm sóc, cấp dưỡng, thăm nom con nên sau khi ly hôn bà G yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, ông T không có ý kiến phản hồi, tranh chấp hay cung cấp chứng cứ về con chung, do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt, nhu cầu và môi trường sống của con cần tiếp tục giao con chung cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà G không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các ẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, các khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Cẩm G về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Phạm Thanh T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Cẩm G được ly hôn với ông Phạm Thanh T.

Về con chung: Bà Hà Cẩm G được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phạm Thế L, sinh ngày 27/6/2012.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hà Cẩm G không yêu cầu ông Phạm Thanh T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Hà Cẩm G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0024750 ngày 08/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:23/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về