Bản án 23/2019/HNGĐ-ST ngày 20/06/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 23/2019/HNGĐ-ST NGÀY 20/06/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 20/6/2019, tại Hội trường, Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2019/TLS-HNGĐ ngày 14/3/2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2019, quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/QĐST-HNGĐ ngày 31/5/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị L, sinh năm 1971

Địa chỉ cư trú: Thôn N, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hửu H, sinh năm 1970

Địa chỉ cư trú: Thôn N, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 12/3/2019, được bổ sung tại bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Dương Thị L trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh Nguyễn Hửu H kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56 ngày 27/11/1992 của UBND xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tính nên thường xuyên cải nhau. Anh H thường nhậu nhẹt về đánh đập, xúc phạm chị; trước đây vì thương con còn nhỏ nên chị cố gắng chịu đựng để nuôi con, đến tháng 8/2018 chị L đã thuê nhà ở riêng, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay mà không ai quan tâm đến ai. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh H, yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, cháu đầu là Nguyễn Hửu H, sinh năm 1993; cháu thứ hai là Nguyễn Thị H, sinh năm 1998 đều đã trưởng thành nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị L trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn Nguyễn Hửu H: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thông báo thụ lý vụ án, triệu tập các bên đương sự, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên toà đến các đương sự hợp lệ nhưng anh Nguyễn Hửu H đều vắng mặt, do đó vụ án không thể tiến hành hoà giải được. Theo xác nhận của Ban Công an xã S, huyện L hiện tại anh Nguyễn Hửu H đang có mặt làm ăn và sinh sống tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập các bên đương sự, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên toà hợp lệ nhưng bị đơn anh Nguyễn Hửu H đều vắng mặt, do đó vụ án không thể tiến hành hoà giải được; anh Huy vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất ngày 31/5/2019 và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử đã ra quyết định hoãn phiên toà. Tại phiên toà lần thứ hai, bị đơn anh Nguyễn Hửu H vẫn vắng mặt mặc dù Toà án đã tống đạt quyết định hoãn phiên toà hợp lệ. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Hửu H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L và anh Nguyễn Hửu H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, nên đây là một cuộc hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, lẽ ra anh, chị phải biết thương yêu, quý trọng chăm sóc lẫn nhau nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, hai bên thiếu sự thông cảm, chia sẽ trong cuộc sống và thiếu quan tâm lẫn nhau. Toà án đã triệu tập, tống đạt thông báo đến anh H hợp lệ nhưng anh H vẫn không đến Toà án giải quyết chứng tỏ anh không còn quan tâm đến chị L, không muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình. Xét mục đích hôn nhân của chị L không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, vợ chồng sống ly thân đã lâu mà không ai quan tâm đến ai, Hội đồng xét xử thấy cần thiết cho chị L được ly hôn anh Nguyễn Hửu H là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dương Thị L được ly hôn anh Nguyễn Hửu H.

2/ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc chị Dương Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2017/0001980 ngày 14 tháng 3 năm 2019. Chị L đã nộp đủ án phí.

3/ Chị Dương Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/6/2019); anh Nguyễn Hửu H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú và trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST ngày 20/06/2019 về ly hôn

Số hiệu:23/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lệ Thủy - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về