Bản án 233/2018/HC-PT ngày 15/06/2018 về khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 233/2018/HC-PT NGÀY 15/06/2018 VỀ KHỞI KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

iNgày 15 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 41/2017/TLPT-HC ngày 25 tháng 4 năm 2017 do có kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2017/HC-ST ngày 15 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai về việc: Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3258/2018/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Bà Lùng Thị Ng, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Tổ 31, phường BC, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Hồng Ph, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ 34, phường DH, thành phố LC, tỉnh Lào Cai (Văn bản ủy quyền ngày 24/8/2016);.

* Người bị kiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành S, chức vụ: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Trung K, chức vụ: Phó Giám đốc (Văn bản ủy quyền ngày 13/11/2017);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, người khởi kiện trình bày:

Vợ chồng ông Lùng Văn Y và bà Phạm Thị Kim Ph (T) có thửa đất số 9a, diện tích 200m2 tại địa chỉ tổ 27 (nay là tổ 31), phường BC, thành phố LC, tỉnh Lào Cai, 1 được UBND thành phố LC cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị từ tháng 10/2008.

Tháng 7/2015, ông Lùng Văn Y làm thủ tục tách thửa đất số 9a thành 02 thửa để tặng cho hai con gái là Lùng Thị B và Lùng Thị Ng. Tháng 12/2015, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố LC đã làm thủ tục tách thửa trên thành 02 thửa là thửa số 103 có diện tích 99,4m2 và thửa số 104 có diện tích 99,6m2.

Tháng 01/2016, ông Lùng Văn Y chết. Tháng 02/2016, vợ và các con ông Y đã làm thủ tục phân chia di sản thừa kế tại Phòng công chứng số 01 tỉnh Lào Cai. Theo thỏa thuận này, bà Lùng Thị Ng được nhận thừa kế đối với thửa đất số 104, tờ bản đồ số P2-17, diện tích 99,6m2.

Ngày 01/4/2016, bà Lùng Thị Ng làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất mà bà được nhận thừa kế là thửa đất số 104. Tháng 7/2016, bà Ng nhận được phiếu xử lý hồ sơ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố LC với nội dung trả lại hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lý do thửa đất này nằm trong quy hoạch chi tiết Tiểu khu đô thị số 10, không đủ điều kiện tách thửa do kích thước và vị trí không phù hợp.

Vì vậy, bà Ng khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai phải thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà theo đúng quy định pháp luật.

* Người bị kiện - Đại diện theo ủy quyền của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai trình bày:

Ngày 14/7/2015, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố LC tiếp nhận hồ sơ tách thửa đất của hộ ông Lùng Văn Y từ bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND thành phố LC, ngày hẹn trả là ngày 11/8/2015. Sau khi kiểm tra hồ sơ của hộ gia đình, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố LC đã ký xác nhận hồ sơ tách thửa số 9a, tờ bản đồ số P2-17 thành 02 thửa mới là thửa số 103 và 104 cho hộ gia đình và trả kết quả ngày 08/12/2015.

Ngày 01/4/2016, bà Lùng Thị Ng nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 104 cho bà Lùng Thị Ng. Ngày 15/5/2016, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố LC đã thực hiện ký xác nhận hồ sơ và trình ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ng.

Ngày 12/7/2016, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Lào Cai đã trả lại hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ng với lý do thửa đất số 9a nằm trong quy hoạch chi tiết Tiểu khu đô thị số 10, không đủ điều kiện tách thửa do kích thước và vị trí thửa đất không phù hợp.

Nay bà Ng khởi kiện yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai thực hiện việc cấp giấy chứng nhận thửa đtấ số 104 cho bà Ng, Sở Tài nguyên và Môi trường không nhất trí.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2017/HC-ST ngày 15/3/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đã áp dụng điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, đã quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Lùng Thị Ng; ngoài ra còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 28/3/2017, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện - bà Phan Hồng Ph có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm số 01/2017/HC-ST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, buộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 104, tờ bản đồ số P2-17 cho bà Lùng Thị Ng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm. Các đương sự không xuất trình thêm chứng cứ, tài liệu nào mới; không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: Những người tham gia tố tụng và tiến hành tố tụng tuân thủ các quy định của Luật tố tụng hành chính. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của người Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2017/HC-ST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa; xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Tiểu khu đô thị số 10 được UBND tỉnh Lào Cai phê duyệt tại Quyết định số 310/QĐ-UBND ngày 13/02/2012 điều chỉnh tại Quyết định số 1165/QĐ-UBND ngày 28/4/2014 và công bố ngày 08/6/2015. Theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Quyết định số 29/QĐ-UBND ngày 25/6/2015 của UBND tỉnh Lào Cai quy định: “Đối với nơi đã có quy hoạch chi tiết được phê duyệt, diện tích tối thiểu được phép tách thành một thửa đất ở mới từ các thửa đất đang sử dụng chỉ được thực hiện đối với các thửa đất hình thành sau khi tách thửa có diện tích tối thiểu và kích thước thửa đất tối thiểu theo quy hoạch đã được phê duyệt”. Đến ngày 14/7/2015, hộ ông Lùng Văn Y mới nộp hồ sơ xin tách thửa. Theo quy hoạch, thửa đất số 9a, tờ bản đồ số P2-17 nằm trong phạm vi dự án Tiểu khu đô thị số 10.

[2] Theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 04/12/2015 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Lào Cai thì thửa đất số 104, diện tích 99,6m2, tờ bản đồ P2-17 có chiều dài cạnh thửa là: Cạnh 1-2: 0,26m; cạnh 2-3: 10,04m; cạnh 3-4: 10,00m; cạnh 4-5: 10,02m; cạnh 5-1: 9,74m. Đối chiếu quy định tại Quyết định 310/QĐ-UBND ngày 13/02/2012 và Quyết định số 1165/QĐ-UBND ngày 28/4/2014 của UBND tỉnh Lào Cai không phù hợp với kích thước, vị trí đã được phê duyệt: Chiều dài được phê duyệt là 24,5; chiều rộng là 14,7 tương đương khoảng 360m2 một thửa đất. Vì vậy, việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố LC ký xác nhận tách thửa số 9a thành 02 thửa mới là thửa 103 và 104 là trái với Quyết định 29/2015/QĐ-UBND ngày 25/6/2015 của UBND tỉnh Lào Cai. Thực hiện văn bản số 747/VPĐK-TTLT ngày 28/12/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố LC đã hủy kết quả tách thửa đối với thửa đất số 9a là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Mặc dù vậy, các quyền của bà Lùng Thị Ng trong việc sử dụng đất do được thừa kế vẫn được đảm bảo theo quy định của pháp luật về đất đai trên cơ sở phù hợp với quy hoạch và chính sách đất đai tại địa phương.

[3] Với các phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lùng Thị Ng là đúng quy định của Pháp luật. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền cho bà Lùng Thị Ng. Quan điểm của ông Phạm Trung K - đại diện theo ủy quyền của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai và quan điểm điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa về việc: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính, không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền cho bà Lùng Thị Ng và giữ nguyên Bản án sơ thẩm là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Phan Hồng Ph (người kháng cáo) phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Luật Tố tụng Hành chính và khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Hồng Ph.

2. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2017/HC-ST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai như sau:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Lùng Thị Ng.

3. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm. Buộc bà Lùng Thị Ng phải chịu 200.000đ án phí hành chính sơ thẩm, đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 200.000đ đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000068 ngày 12/10/2016 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Bà Ng đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

- Án phí phúc thẩm: Bà Phan Hồng Ph (người kháng cáo) phải chịu 300.000đ án phí hành chính phúc thẩm, đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000116 ngày 10/4/2017 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Bà Phúc đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.


90
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về