Bản án 24/2018/HNGĐ-ST ngày 05/10/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 24/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/10/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 05 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2018/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2018 về việc “Kiện xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số nhà 188, đường ĐTH, tổ dân phố BC, phường TC, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Bị đơn: Anh Vũ Đăng P, sinh năm 1967; Địa chỉ: Số nhà 188, đường ĐTH, tổ dân phố BC, phường TC, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Phiên tòa có mặt chị H, anh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/8/2018, bản tự khai, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

Chị và anh Vũ Đăng P kết hôn với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TC, thị xã Phủ Lý (nay là phường TC, thành phố Phủ Lý), tỉnh Hà Nam ngày 11/01/1991 và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quản lý và làm ăn kinh tế, anh P mải chơi cờ bạc, rượu chè, gái gú dẫn tới cuộc sống chung vợ chồng ngày càng căng thẳng. Đến năm 2012 cuộc sống vợ chồng rất khó khăn nhưng anh P không tập trung lo kinh tế gia đình mà ngày nào cũng rượu chè say xỉn dẫn tới vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn giữa chị và anh P đã được gia đình cũng như chính quyền địa phương hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay, không ai quan tâm tới ai nữa, chấm dứt quan hệ tình cảm vợ chồng. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Đăng P.

Về con chung: Chị và anh P có 02 con chung là Vũ Đăng H1, sinh ngày 28/02/1992 (con trai) và Vũ Đăng H2, sinh ngày 18/3/1998 (con trai). Hiện nay hai  chung đã đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.gì.

Con nuôi, con riêng: Vợ chồng không có. Hiện chị H không có thai nghén

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và các nghĩa vụ đóng góp khác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Vũ Đăng P trình bày: Về thời điểm kết hôn, thủ tục kết hôn, nơi đăng ký kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn của hai vợ chồng anh nhất trí với phần trình bày của chị H. Anh thấy bản thân anh có uống rượu, mải vui với bạn bè, anh em, thi thoảng anh có tham gia chơi đánh phỏm ở đình đám là đúng. Sau khi uống rượu về thì vợ chồng có cãi chửi nhau nhưng nay anh hứa sẽ tự mình sửa chữa, hạn chế chơi bời, uống rượu và sẽ tập trung lo làm ăn kinh tế gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ ba đến bốn năm nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng anh xin đoàn tụ vì con cháu.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như chị H khai là hoàn toàn chính xác. Nay các con chung đã trưởng thành, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và các nghĩa vụ đóng góp khác: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P. Phía anh P xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng vì con cháu nên anh xin đoàn tụ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Vũ Đăng P có hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại tổ dân phố BC, phường TC, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án tranh chấp ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Vũ Đăng P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Vũ Đăng P kết hôn tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã TC, thị xã Phủ Lý (nay là phường TC, thành phố Phủ Lý), tỉnh Hà Nam cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/01/1991. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng vài năm (05 năm) thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh P mải chơi bời, uống rượu, cờ bạc không chịu làm ăn xây dựng kinh tế gia đình, chị H và gia đình đã khuyên bảo anh P nhưng anh P không những không nghe mà mỗi lần đi uống rượu về là vợ chồng xảy ra đánh cãi, chửi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Nay cả chị H và anh P đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhưng anh P không muốn ly hôn vì các con cháu chứ không phải vì tình cảm vợ chồng. Xét thấy chị H và anh P đã có thời gian dài chung sống cùng nhau và đã có hai con chung, các cháu đã trưởng thành, thậm trí có cháu đã xây dựng gia đình có cuộc sống riêng. Lẽ ra anh P phải là người chồng, người cha gương mẫu, làm gương cho con cháu học tập, nhưng anh P vẫn chứng nào tật ấy, vẫn rượu chè, cờ bạc gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống gia đình. Vợ chồng không tìm thấy tiếng nói chung, không ai quan tâm tới ai nữa, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 54, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử ly hôn giữa chị H và anh P là phù hợp với thực tế và pháp luật.

[3] Về con chung: Chị H và anh P có hai con chung là Vũ Đăng H1, sinh ngày 28/02/1992 (con trai) và Vũ Đăng H2, sinh ngày 18/3/1998 (con trai). Hiện nay hai con chung đã đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Con nuôi, con riêng: Vợ chồng không có. Hiện chị H không có thai nghén gì.

[4] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và các nghĩa vụ đóng góp khác: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị H phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các Điều 51, 54, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Vũ Đăng P.

2. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Chị H được đối trừ với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0001888 ngày 29/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, chị H đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2018/HNGĐ-ST ngày 05/10/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:24/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về