Bản án 24/2018/HNGĐ-ST ngày 31/05/2018 về không công nhận vợ chồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 24/2018/HNGĐ-ST NGÀY 31/05/2018 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG

Ngày 31 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018, về việc không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXX-ST ngày 21 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm: 1978.

Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Kim O, sinh năm: 1977.

Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 4 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị O tự quen biết tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 1998, hôn nhân tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn.

Anh và chị O chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do giờ giấc làm việc của mỗi người khác nhau nên khi đi làm về có xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến gây gỗ nhau nhiều lần, mỗi người một quan điểm sống khác nhau nên anh và chị O chung sống với nhau không còn hạnh phúc nữa. Vợ chồng anh ly thân từ năm 2016 đến nay cũng không có biện pháp khắc phục hàn gắn gia đình. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh yêu cầu không công nhận anh và chị O là vợ chồng.

- Về con chung: Anh và chị O có một con chung tên Trần Chí K, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1999. Hiện tại cháu K đang sống chung với chị O, cháu đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Kim O trình bày:

- Về hôn nhân: Anh T trình bày cơ sở hôn nhân giữa chị và anh T như trên là đúng. Chị và anh T chung sống với nhau vào năm 1998, hôn nhân tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống chị và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, mỗi người một quan điểm sống khác nhau nên chị và anh T thường xuyên gây gỗ với nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án không công nhận chị và anh T là vợ chồng.

- Về con chung: Chị và anh T có một con chung tên Trần Chí K, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1999. Hiện tại cháu K đang sống chung với chị, cháu đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên Tòa trình bày:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn anh Trần Văn T và bị đơn chị Nguyễn Kim O có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị O là đúng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014). Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Trần Văn T, không công nhận anh Trần Văn T và chị Nguyễn Kim O là vợ chồng. Về con chung: Có một cháu tên Trần Chí K, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1999 đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên anh chị không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung: Anh T, chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Anh T, chị O trình bày không có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết. Về án phí: Anh T phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Kim O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị O theo quy định tại Khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Kim O chung sống với nhau từ năm 1998, nhưng không có đăng ký kết hôn, nên hôn nhân của hai anh chị không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình (năm 2014) thì không không công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị O là vợ chồng.

[3] Về con chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Kim O có 01 con chung tên Trần Chí K, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1999. Hiện tại cháu K đang sống chung với chị O. Anh T và chị O thống nhất do cháu K đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng.

[4] Về tài sản chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Kim O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Kim O trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 9, Điều 14, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận anh Trần Văn T và chị Nguyễn Kim O là vợ chồng.

2. Về con chung: Ghi nhận anh Trần Văn T và chị Nguyễn Kim O có một con chung tên Trần Chí K, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1999, con chung đã thành niên tự lao động, sinh sống được nên anh chị thống nhất không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Kim O thống nhất không yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Kim O trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Được khấu trừ tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0021409 ngày 03 tháng 5 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Anh T đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

Chị Nguyễn Kim O không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Anh T, chị O có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


69
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2018/HNGĐ-ST ngày 31/05/2018 về không công nhận vợ chồng

Số hiệu:24/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Cầu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về