Bản án 24/2018/HS-ST ngày 05/02/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 24/2018/HS-ST NGÀY 05/02/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2018/TLST ngày 03/01/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2018/QĐXXST-HS đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh ngày 24/12/1989. Nơi ĐKNKTT: Bản H, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La, trình độ văn hoá lớp 12/12, nghề nghiệp: Trồng trọt. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: không. Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1957 và bà Lê Thị V, sinh năm 1961; Vợ: Vũ Thị L, sinh năm 1993 và 01 con sinh năm 2014, hiện đều trú tại Bản H, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2017 cho đến nay có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

Ông Nguyến Tiến Q, sinh năm 1980, Nơi ĐKNKTT: Bản H, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Do bản thân Nguyễn Văn D là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 08 giờ, ngày 19/10/2017 Nguyễn Văn D điều khiển xe máy hiệu YAMAHA, BKS 26H5 – 7425 đi từ nhà vượt biên sang nước Cộng Hòa Dân Chủ nhân dân Lào tìm mua ma túy mang về sử dụng, khi Nguyễn Văn D sang đến địa phận Nước Cộng Hòa Dân Chủ nhân dân Lào, D hỏi mua được 33 viên hồng phiến của một phụ nữ người Mông với giá 900.000 đồng, sau khi mua xong bị cáo đang trên đường về đến bản K, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La thì bị phát hiện bắt quả tang thu toàn bộ vật chứng gồm: Một gói nilon màu xanh bên trong có chứa 33 viên màu hồng có tổng trọng lượng là 3,19 gam, qua kết luận giám định là Methamphetamine và 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS 26H5 – 7425.

Với hành vi nêu trên, tại cáo trạng số 08/KSĐT ngày 03/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội, xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, sống phụ thuộc gia đình, đề nghị miễn áp dụng khoản 5 Điều 194 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn D.

Vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 2,62g + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì đã bóc mở.

Trả lại cho Nguyễn Tiến Q 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA BKS 26H5– 7425.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Do nghiện ma túy, bị cáo Nguyễn Văn D đã mang theo 900.000đ đi sang nước Cộng Hòa Dân Chủ nhân dân Lào tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện Yên Châu lập hồi 11 giờ 00 ngày 19/10/2017 đối với Nguyễn Văn D cùng toàn bộ vật chứng là 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 33 viên màu hồng có tổng trọng lượng là 3,19 gam, bị cáo D khai là hồng phiến và 01 xe máy YAMAHA, BKS 26H5 – 7425.

Tại bản kết luận giám định số 975/KLMT ngày 25/10/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận số viên nén màu hồng gửi giám định trong mẫu ký hiệu H = 0,57 gam trích ra trong tổng số 3,19 gam thu giữ của Nguyễn Văn D là loại chất Methamphetamine.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, ngày 19/10/2017 bị cáo mang theo 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) sang bản L thuộc nước Cộng Hòa Dân Chủ nhân dân Lào, hỏi mua được một gói hồng phiến của một phụ nữ người Mông không biết họ tên, địa chỉ, sau khi mua được đang trên đường về đến bản K, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La thì bị phát hiện bắt quả tang là hoàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 “ tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự quy định người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”, nhưng Hội đồng xét xử xét thấy tại giai đoạn xét xử sơ thẩm Bộ luật hình sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật, để đảm bảo theo hướng có lợi cho bị cáo cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 “Khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 quy định người nào tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 5 năm” để áp dụng xử phạt đối với bị cáo.

Xét tính chất vụ án: Bị cáo Nguyễn Văn D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ chất ma túy là loại hàng nhà nước cấm tàng trữ, mua bán, sử dụng lưu hành trên thị trường, nhưng vẫn cố tình mua 3,19 gam Methamphetamine cất giữ trên người với mục đích để sử dụng cho bản thân là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn, cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh, bị cáo không có tài sản gì đáng giá, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án bị cáo khai mua của một người phụ nữ người Mông Quốc tịch Lào, không biết họ tên, địa chỉ, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu không có cơ sở xác minh làm rõ, do vậy buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu trách nhiệm độc lập toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án.

Vật chứng vụ án: 3,19g Methamphetamine đã trích 0,57g làm mẫu gửi giám định không hoàn lại, số còn lại được ký hiệu L = 2,62g + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì đã bóc mở, mặt sau phong bì có tên và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 02 dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu ở hai góc phong bì, xét là loại hàng nhà nước cấm lưu hành trên thị trường, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS 26H5 – 7425 là xe máy do bị cáo mượn của ông Nguyễn Tiến Q (anh trai ruột của bị cáo), khi mượn xe bị cáo nói là mượn đi mua thức ăn, việc bị cáo sử dụng làm phương tiện vận chuyển ma túy ông Nguyễn Tiến Q không biết, do vậy cần trả lại chiếc xe trên cho ông Nguyễn Tiến Q.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Với các căn cứ nêu trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1/ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/10/2017.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn D.

2/ Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số hồng phiến có ký hiệu L = 2,62g + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì đã bóc mở, mặt sau phong bì có tên và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 02 dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu ở hai góc phong bì.

Trả lại cho ông Nguyễn Tiến Q 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA jupiter MX, màu sơn đen – bạc, BKS 26H5 – 7425, không xác định được số khung, số máy, xe không có giấy tờ kèm theo, không có chìa khóa, không gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng.

3/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, (05/02/2018).


75
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về