Bản án 248/2019/DS-PT ngày 29/10/2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 248/2019/DS-PT NGÀY 29/10/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 265/2019/TLPT-DS ngày 30 tháng 9 năm 2018, về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2018/DS-ST ngày 27/08/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 285/2019/QĐ-PT ngày 04 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Thái Văn Đ, sinh năm 1961; cư trú tại: số 997, ấp Ngã Tắc, xã Long Thuận, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu L - Là Luật sư của Văn phòng Luật sư TL chi nhánh Tây Ninh; có mặt.

- Bị đơn:

1. Ông Phan Tấn H, sinh năm 1964; có mặt;

2. Anh Phan Tấn D, sinh năm 2000; vắng mặt.

Cùng cư trú tại: Ấp NgT, xã LTh, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

- Người kháng cáo: Ông Thái Văn Đ là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đơn khởi kiện đề ngày 22-01-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Thái Văn Đ trình bày: Nhà ông và ông H đối diện nhau tại ấp NgT, xã LTh, huyện B. Vào ngày 01-10-2018, giữa ông và anh Gi (con Đ) với ông H và anh D (con ông H) xảy ra mâu thuẫn xô xát tại nhà của ông. Ông và anh Gi bị ông H và anh D đánh gây thương tích, với tỷ lệ thương tích của anh Gi là 03%, ông là 01%. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh D về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác.

Giữa anh Gi với ông H, anh D đã thỏa thuận bồi thường xong. Ông H và anh D chưa bồi thường cho ông. Tổng chi phí điều trị của ông là: 12.456.032 đồng, bao gồm tiền viện phí, tiền chụp X - Quang, tiền thuốc, tiền taxi đi lại là 7.456.032 đồng; chi phí hợp lý và tiền mất thu nhập của con ông do nghỉ làm để chăm sóc ông trong 10 ngày là 5.000.000 đồng; tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 50.000.000 đồng. Tổng cộng ông yêu cầu ông H và anh D cùng có nghĩa vụ bồi thường cho ông số tiền là 62.456.032 đồng.

Bị đơn ông Phan Tấn H trình bày: Ngày 01-10-2018, giữa ông với ông Đ xảy ra mâu thuẫn tại nhà ông Đ; anh Gi đánh ông trước, nghe ông la nên anh D chạy đến can ngăn làm anh Gi té ngã trúng đầu vào giá võng gây thương tích 3%. Ông và anh D đã bồi thường cho anh Gi 7.000.000 đồng. Ông và anh D không đánh ông Đ; sau ngày xảy ra mâu thuẫn xô xát nhau, ông Đ vẫn bình thường; khoảng 04 - 05 ngày sau đó ông Đ đi nhập viện tại Trung tâm Y tế huyện B. Riêng ông và anh D bị xây xát nhẹ nên không giám định thương tích và cũng không yêu cầu bồi thường.

Nay ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ; yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Cụ thể, ông đồng ý bồi thường các khoản chi phí hợp lý, tiền điều trị thương tích của ông Đ, ông không chấp nhận yêu cầu của Đ về bồi thường tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng, vì ông Đ không bị tổn thất tinh thần, vẫn sinh hoạt bình thường và thương tích của ông Đ chỉ là 1%.

Nếu phải bồi thường cho ông Đ thì cá nhân ông tự nguyện có nghĩa vụ bồi thường cho ông Đ, do thiệt hại của ông Đ không liên quan đến anh D, vì anh D không đánh ông Đ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09 tháng 7 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phan Tấn D trình bày:

Ngày 01-10-2018 nghe tiếng la bên nhà ông Đ, anh chạy đến thấy ông H (cha anh D) bị anh Gi đánh nên anh đẩy anh Gi làm anh Gi bị té ngã, bị thương tích 3%; anh và ông H đã bồi thường cho anh Gi xong. Riêng ông Đ bị thương tích 1%, không phải do anh gây ra. Nay anh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 584, Điều 590 của Bộ Luật Dân sự; khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của ông Thái Văn Đ đối với anh Phan Tấn D.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của ông Thái Văn Đ đối với ông Phan Tấn H.

Buộc ông Phan Tấn H có nghĩa vụ bồi thường cho ông Thái Văn Đ số tiền 2.534.200 (hai triệu, năm trăm ba mươi bốn nghìn, hai trăm) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 30-8-2019, ông Thái Văn Đ kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Thái Văn Đ; sửa bản án sơ thẩm. Ghi nhận ông Phan Tấn H tự nguyện bồi thường thêm cho ông Đ 1.000.000 (một triệu) đồng tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của ông Thái Văn Đ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét đơn kháng cáo và lời trình bày của ông của ông Thái Văn Đ; lời trình bày của vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ, yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ; cụ thể yêu ông Phan Tấn H có nghĩa vụ bồi thường cho ông Đ các khoảng tổng cộng là 62.456.032 đồng. Xét thấy:

Ngày 01-10-2018, do mâu thuẫn nên giữa ông Đ, anh Gi (con ông Đ) với ông H, anh D (con ông H) xảy ra xô xát dẫn đến ông Đ và anh Gi bị thương tích. Đối với thương tích của anh Gi do anh D gây ra, anh D bồi thường xong.

Theo ông Đ trình bày, thương tích của ông 01% là do ông H và anh D gây ra nhưng ông Đ không nhìn thấy, không xác định được ai là người trực tiếp gây thương tích cho ông Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H thừa nhận ông là người gây thương tích cho ông Đ, lời trình bày của ông H phù hợp với lời khai của những người chứng kiến. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho ông Đ là có căn cứ.

[2] Xác định thiệt hại: Ngày xảy ra xô xát nhau giữa ông Đ với ông H là ngày 01-10-2018; đến ngày 05-10-2018 ông Đ đến Trung tâm Y tế huyện B điều trị. Kết quả thăm khám và chụp X-quang cho thấy ông Đ không bị chấn thương do bị đả thương gây ra ở ngực, lưng và vai như ông Đ trình bày. Đến ngày 09-10-2018, ông Đ xuất viện. Tổng chi phí điều trị là 1.044.180 (một triệu, không trăm bốn mươi bốn nghìn, một trăm tám mươi) đồng (bút lục 186).

[3] Sau khi xuất viện tại Trung tâm Y tế huyện B, ông Đ tiếp tục đi khám tại Bệnh viện 115 và Bệnh việc Quốc tế Becamex Bình Dương. Kết luận các bệnh lý của ông Đ là do bệnh mãn tính, không phải do bị đả thương gây ra. Đồng thời tại Kết luận giám định thương tích (bút lục 47,48) cho thấy ông Đ bị thương tích tỷ lệ 1% “01 vết xây xát da mặt ngoài đầu trên cánh tay phải, kích thước 2 X 0,4 cm lành tốt”. Do đó, ông Đ yêu cầu bồi thường các chi phí điều trị tại Bệnh viện Nhân dân 115 và Bệnh việc Quốc tế Becamex Bình Dương là không có căn cứ chấp nhận, vì các chi phí điều trị này không liên quan đến tỷ lệ thương tích của ông Đ do ông H gây ra.

[4] Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần: Ông Đ yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho ông là 50.000.000 đồng, nhưng ông Đ không chứng minh được tổn thất tinh thần nghiêm trọng cho ông do hành vi của ông H gây ra; do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Đ. Tuy nhiên, xét tỷ lệ thương tích của ông Đ là 01%, cấp sơ thẩm buộc ông H phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Đ một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho Đ bằng một tháng lương cơ sở, tương ứng với số tiền 1.490.000 đồng là phù hợp.

[5] Đối với khoản tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ xác nhận trong thời gian nằm viện tại Trung tâm Y tế huyện B, con ông Đ (làm Công nhân xí nghiệp) có mang cơm đến, chăm sóc cho ông nhưng con ông vẫn đi làm, lãnh đủ tiền lương; do đó cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Đ về khoảng tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông Phan Tấn H tự nguyện bồi thường thêm cho ông Đ 1.000.000 (một triệu) đồng tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh, nên cần ghi nhận.

[6] Từ những nhận định nêu trên, cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Thái Văn Đ; chấp nhận một phần lời trình bày của vị Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Đ; chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; sửa bản án sơ thẩm.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Thái Văn Đ được miễn nộp tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Thái Văn Đ;

2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ Điều 584, Điều 590 của Bộ luật Dân sự; khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của ông Thái Văn Đ đối với anh Phan Tấn D.

4. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của ông Thái Văn Đ đối với ông Phan Tấn H.

+ Buộc ông Phan Tấn H có nghĩa vụ bồi thường cho ông Thái Văn Đ số tiền 2.534.200 (hai triệu, năm trăm ba mươi bốn nghìn, hai trăm) đồng.

+ Ghi nhận ông Phan Tấn H tự nguyện bồi thường cho ông Thái Văn Đ 1.000.000 (một triệu) đồng tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh.

Tổng cộng ông Phan Tấn H có nghĩa vụ bồi thường cho ông Thái Văn Đ số tiền 3.534.200 (ba triệu, năm trăm ba mươi bốn nghìn, hai trăm) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

5. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Tấn H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

6. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Thái Văn Đ được miễn nộp tiền án phí.

7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


11
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về