Bản án 250/2017/HNGĐ-ST ngày 31/10/2017 về không công nhận vợ chồng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 250/2017/HNGĐ-ST NGÀY 31/10/2017 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG

Ngày 31 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 734/2017/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 10 năm 2017 về việc không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 790/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dư Thị Mỹ H; cư trú tại số 14, Lý Thường K, khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Anh Lý Mộc H1; cư trú tại số 14, Lý Thường K, khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về hôn nhân, chị Dư Thị Mỹ H và anh Lý Mộc H1 chung sống với nhau vào năm 1995, có tổ chức cưới gả theo phong tục nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, thời gian đầu có hạnh phúc nhưng đến khoảng đầu năm 2017, giữa vợ chồng xãy ra nhiều mâu thuẩn do anh H1 không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con dẫn đến cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Nay chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh H1, anh H1 cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung chị Hằng và anh Huy khai nhận có 02 người con là Lý Nhựt Trường, sinh ngày 26/01/1996 và Lý Trường Duy, sinh ngày 30/5/2000. Hiện Lý Nhựt Trường đã trưởng thành, tự nuôi sống được nên khi ly hôn, anh chị không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Riêng Lý Trường Duy, anh chị thỏa thuận giao cho chị H nuôi và không cấp dưỡng nuôi con, cháu Duy cũng có nguyện vọng được chung sống với chị H.

Về tài sản chung và nợ chung, chị H và anh H1 khai không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hôn nhân, chị H và anh H1 chung sống với nhau vào năm 1995 đến nay tuy đủ điều kiện kết hôn nhưng anh, chị không đăng ký kết hôn theo luật định nên căn cứ vào khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì việc kết hôn trên không được đăng ký theo quy định là không có giá trị pháp lý. Nay chị H, anh H1 đồng ý chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẩn, mục đích hôn nhân không đạt. Xét mâu thuẩn thực tế được anh, chị thừa nhận là có thật. Đồng thời, do hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[2] Về con chung là Lý Nhựt Trường, sinh ngày 26/01/1996 và Lý Trường Duy, sinh ngày 30/5/2000. Hiện cháu Lý Nhựt Trường đã thành niên nên khi ly hôn, chị H và anh H1 không đặt ra yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Riêng cháu Lý Trường Duy, anh H1 cùng chị H thỏa thuận giao cho chị H nuôi và không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc thỏa thuận trên anh, chị là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và đúng với nguyện vọng của cháu Duy nên chấp nhận.

[3] Về tài sản chung và nợ chung, chị H và anh H1 khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, chị H phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa chị Dư Thị Mỹ H và anh Lý Mộc H

- Về con chung là Lý Nhựt Trường, sinh ngày 26/01/1996 và Lý Trường Duy, sinh ngày 30/5/2000. Hiện cháu Lý Nhựt Trường đã thành niên, tự nuôi sống được nên không đặt ra xem xét. Riêng cháu Lý Trường Duy, tiếp tục giao cho chị Dư Thị Mỹ H chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Anh Lý Mộc H1 có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung, chị Dư Thị Mỹ H và anh Lý Mộc H1 khai không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Chị Dư Thị Mỹ H phải nộp số tiền 300.000đ. Vào ngày 28/9/2017, chị H đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0003669 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


62
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về