Bản án 250/2019/HS-PT ngày 13/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 

BẢN ÁN 250/2019/HS-PT NGÀY 13/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 13 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 735/2018/TLPT-HS ngày 17 tháng 12 năm 2018 do có kháng cáo của bị cáo Chung Ngọc H đối  với  bản án hình  sự sơ thẩm số: 403/2018/HSST của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo: Chung Ngọc H, sinh năm: 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; thường trú tại: số ..., đường Phan Văn T, phường ..., quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: số ..., đường Lạc Long Q, phường ..., Quận..., Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tich: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Phật Giáo; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Chung Tô H- sinh năm 1950 và bà Đỗ Thị B- sinh năm 1955; có vợ là Nguyễn Thị T- sinh năm 1980 và có con là Nguyễn Hoàng Huy P- sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không.

* Về nhân thân:

- Theo Bản án hình sư sơ thẩm số 03/HS-ST ngày 13/01/1998 của Tòa án nhân dân quận Gò v, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và Bản án hình sự phúc thẩm số 260/HSPT ngày 06/6/1998 của Tòa án nhân dân Thành phổ Hồ Chí Minh đã xét xử y án sơ thẩm.

- Theo Bản án hình sư sơ thẩm số 100/HS-ST ngày 22/9/1998 của Tòa án nhân dân huyện Thuận A đã xử 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp với bản án hình sự phúc thẩm số 260/HSPT ngày 06/6/1998 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành 24 tháng tù. Đến ngày 03/12/1999 được tha tù.

- Theo bản án hình sư sơ thẩm số 2967/HSST ngày 22/12/2000 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xử 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và Bản án hình sự phúc thẩm só 583/HSPT ngày 17/4/2001 của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử y án sơ thẩm.

- Theo bản án hình sư sơ thẩm số 1367/HSST ngày 29/10/2001 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xử 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và tổng hợp với Bản án hình sự phúc thẩm só 583/HSPT ngày 17/4/2001 của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử y án sơ thẩm 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thành 08 năm tù. Đến ngày 28/9/2007 được tha tù. Ngày 07/2/2013 được xóa án tích theo Giấy chứng nhận xóa án tích số 18/2013/GCN- CA của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2018 (có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Chung Ngọc H: Ông Nguyễn Đức H là Luật sư, thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 08/5/2018, tại nhà số 674, Hương Lộ ..., phường Bình Trị Đ, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang Chung Ngọc H đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma-túy, thu trong cốp xe mô tô biển số 59M1- 058.77 do Chung Ngọc H điều khiển có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 49,5030 gam loại Methamphetamine (MA). Khám xét khẩn cấp chỗ ở của  Chung Ngọc H tại số ..., đường Lạc Long Q, phường ..., Quận ..., Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ tại cửa phòng ngủ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu  qua  giám định  là  ma  túy  ở  thế  rắn,  có  khối  lượng  169,63  gam loại Methamphetamine (MA); 01 gói nylon chứa 400 viên nén màu xanh hình tam giác răng cưa, kết quả giám định là chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 165,28 gam loại Ketamine; 01 lọ thủy tinh ghi chữ “ilium ketamil injection” chứa chất lỏng, kết quả giám định là ma túy ở thể lỏng, có thể tích 28,0 mililit, lọai Ketamine, hàm lượng 26 mililit Ketamine tương đương 0,639 gam Ketamine.

Toàn bộ số ma túy thu giữ của Chung Ngọc H đã được giám định tại bản Kết luận giám định số 846/KLGĐ-H ngày 21/5/2018 và bản Kết luận giám định bổ sung số 147/KLGĐHL-BS ngày 30/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong quá trình điều tra Chung Ngọc H khai nhận: Bị cáo bắt đàu sử dụng ma túy từ đầu năm 2015 cho đến ngày bị bắt (nguồn ma túy là do mua của những người không rõ lai lịch, ở khu vực Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh với giá từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng).

Vào ngày 08/5/2018, có 01 người tên S(không rõ lai lịch) điện thoại cho Chung Ngọc H đến đường Tô Hiệu, quận Bình T gặp S để chào bán ma túy đá. Nên Chung Ngọc H điều khiển xe mô tô đi đến địa điểm trên gặp S nhận một gói ma túy đá rồi cất trong cốp xe, định mang về nơi ở cất giấu, nhưng khi đi đến số 674, Hương Lộ ..., phường Bình Trị Đ, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Đối với số ma túy thu giữ khi khám xét Chung Ngọc H khai là của một bạn tên Châu (không rõ lai lịch) để quên khi đến nhà Chung Ngọc H chơi và Châu nhờ Chung Ngọc H giử hộ.

* Về vật chứng thu giữ của vụ án gồm có:

- 02 gói niêm phong ghi số 846(1,2) bên ngoài có chữ ký của giám định viên, bên trong là ma túy còn lại sau giám định;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone và 01 điên thoại di động hiệu HTC;01 cân điện tử;

- 01 xe mô tô biển số 59M1-058.77, số máy 4004813-M663M, số khung 004517- AV. Kết quả xác minh xe do bà Nguyễn Thị Kim Hoàng (mẹ vợ của Huy) đứng tên chủ sở hữu. Bà Hoàng khai mua xe từ năm 2011 để sử dụng. Ngày 07/5/2018, Huy về thăm nhà và hỏi mượn xe để sử dụng. Bà Hoàng không biết Huy cất giấu ma túy trong xe. Huy khai phù hợp với bà Hoàng, nên ngày 29/6/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định xử lý vật chứng trả xe cho bà Nguyễn Thị Kim Hoàng.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 403/2018/HSST của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố bị cáo Chung Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Chung Ngọc H 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 08/5/2018.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1,2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong ghi số 846(1,2) bên ngoài có chữ ký của giám định viên, bên trong là ma túy còn lại sau giám định;

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone và 01 điện thoại di động hiệu HTC; 01 cân điện tử.

- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của bị cáo.

* Đến ngày 12/11/2018   bị cáo Chung Ngọc H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Chung Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Luật sư  bào chữa cho bị cáo Chung Ngọc H lập luận rằng: Ở bị cáo Chung Ngọc H là người thật thà khai báo, lao động chính, có cha mẹ già, con còn nhỏ; bị cáo tàng trử ma túy để sử dụng, nên tác hại về ma túy cho người khác có phần hạn chế, nên đề nghị giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng.

- Kiểm sát viên đại  diện cho Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Chí Minh phát biểu quan điểm, đánh giá chứng cứ cho rằng: Với số lượng ma túy thu giử được của bị cáo Chung Ngọc H. Bản án hình sự sơ thẩm số: 403/2018/HSST của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Chung Ngọc H mức án 18 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không nặng, nên đề nghị bác yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Chung Ngọc H, giữ y án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo; Luật sư.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1]- Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ và phúc thẩm bị cáo Chung Ngọc H đều thừa nhận số ma túy do lực lượng công an bắt, khám xét thu giử được trong cốp xe mô tô biển số 59M1- 058.77 và tại số nhà 416/19/17, đường Lạc Long Quân, phường 15, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 08/5/2018 là của bị cáo cất giữ để nhằm mục đích sử dụng.

 [2]- Theo kết quả giám định số ma túy thu giữ được của bị cáo Chung Ngọc H trong ngày 08/5/2018 gồm:

- Loại Methamphetamine (MA) có khối lượng 219,133gam

- Loại Ketamine có khối lượng 165,919 gam

 [3]- Như vậy, tổng khối lượng ma túy mà bị cáo Chung Ngọc H có hành vi cất giấu, bị thu giữ là 385,052 gam loại Methamphetamine và Ketamine. Hành vi này của bị cáo Chung Ngọc H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và có chế tài  hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Thế nhưng bản án sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo Chung Ngọc H mức án 18 năm tù là không nặng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Chung Ngọc H không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên không chấp nhận kháng cáo xin giam án của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo như quản điểm đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là cần thiết.

 [4]- Bị cáo Chung Ngọc H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

 [5]-  Các quyết định khác của bản án hình sự sơ do không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm a khoản 1 điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm án của bị cáo Chung Ngọc H. Giữ ngayên Bản án hình sự sơ thẩm số: 403/2018/HSST của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

* Tuyên xử:

 [1]- Tuyên bố bị cáo Chung Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

 [2]- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Chung Ngọc H 18 (mười tám) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 08/5/2018.

 [3]- Bị cáo Chung Ngọc H phải chịu  200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.

 [4]- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 403/2018/HSST của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh do không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


42
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 250/2019/HS-PT ngày 13/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

      Số hiệu:250/2019/HS-PT
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:13/05/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về