Bản án 251/2019/HSST ngày 26/09/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 251/2019/HSST NGÀY 26/09/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 244/2019/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: HOÀNG VĂN T (Tên gọi khác: B), sinh ngày: 11/12/1991; Tại: tỉnh Hà Nội; Nơi cư trú: 40 H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hoàng Thanh B, sinh năm 1965 và con bà Lê Thị T, sinh năm 1962. Hiện trú tại: Thôn 14, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Mai P, sinh năm 1988 và có 02 con lớn nhất sinh năm 2013 và nhỏ nhất sinh năm 2016. Hiện đều trú tại: 40 H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/5/2019 đến ngày 18/5/2019, hiện đang tại ngoại – Có mặt.

* Người bị hại: anh Nguyễn Danh N, sinh năm 1988. Địa chỉ: 187 N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lê Nhật Q, sinh năm 1988. Địa chỉ: 187 N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị Mai P, sinh năm 1988. Địa chỉ: 40 H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1988. Địa chỉ: 19 đường G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt;

2. Anh Hồ Quang H, sinh năm 1984. Địa chỉ: 40/13/16 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 09/5/2019, Hoàng Văn T đang ngồi chơi ở trong quán cà phê Pub Ball, địa chỉ số 21 G, phường T, thành phố B thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau với vợ là chị Nguyễn Thị Mai P. Sau đó cả hai tiếp tục đi ra phía trước cửa quán Pub Ball cãi nhau, lúc này T dùng tay tát vào mặt chị P 02 cái nhưng không gây thương tích gì. Thấy vậy, chị Lê Nhật Q và anh Nguyễn Danh N cùng người đàn ông tên L (Không xác định được nhân thân lai lịch) là bạn của anh N đang đứng phía trước cửa quán đến can ngăn, anh N có nói với T “Sao lại đánh phụ nữ”, thì T nói lại “Việc riêng của gia đình tôi, đừng có xen vào”, nghe T nói vậy anh N và những người đi cùng đòi đánh T, thì T liền cầm chiếc ghế xếp loại ghế có khung làm bằng Inox ở ngay đó giơ lên đánh trúng vào người anh N gây thương tích, bị T đánh anh N liền cầm ghế đánh vào người T gây thương tích ở vùng mắt trái. Lúc này, chị Q và một người thanh niên tên L xông đến cầm ghế đánh vào người T, thì được anh Hồ Quang H và mọi người đến can ngăn lôi anh N và T ra, nhưng T vẫn đòi xông vào đánh anh N. Trong lúc mọi người đang đứng nói chuyện, do bực tức vì bị anh N đánh nên T chạy đến góc bên trái, phía ngoài của quán lấy 01 cây nẹp loại dùng làm khung tranh bằng nhựa cứng dài khoảng 1m, rộng 07cm, xông đến đánh trúng vào tay của anh N làm cây nẹp bị gãy ra, T tiếp tục dùng phần cây nẹp còn lại đã bị gãy xông đến đánh nhiều cái trúng vào đầu, mũi và người của anh N gây thương tích thì được mọi người can ngăn ra và đưa anh N đến Bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh để chữa trị đến ngày 15/5/2019 thì ra viện.

Tại bản Kết luận pháp y thương tích số 558/TgT-TTPY, ngày 10/5/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Anh Nguyễn Danh N bị:

+ Vết thương vùng đỉnh đầu: Có 03 vết thương, kích thước 01cm, 01cm và 01 cm.

+ Vết thương vùng đỉnh phải 02cm;

+ Gãy xương chính mũi.

Sức khỏe bị giảm do thương tích gây nên hiện tại là: 11% (Mười một phần trăm); vật tác động: vật tày.

Tại bản Kết luận Pháp y thương tích số 848/TgT-TTPY, ngày 12/7/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Bị can Hoàng Văn T bị:

+ Sẹo thẳng gọn trên ngoài mi mắt phải kích thước 1,5cm x 0,2cm.

+ 01 Sẹo thẳng mờ kích thước 01cm x 01cm (Ở cách xuống dưới vết sẹo trên 0,5cm).

+ 01 sẹo kích thước 0,5cm x 0,1cm vùng dưới mi mắt phải.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 02% (Hai phần trăm).

Tại bản cáo trạng số 262/CT-VKSTP.BMT ngày 03/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và theo nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng số 262/CT-VKSTP.BMT ngày 03/9/2019, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 09/5/2019 tại quán cà phê Pub Ball, thuộc địa chỉ số 21 G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, do trước đó có xảy ra mâu thuân với anh N nên bị cáo Hoàng Văn T dùng 01 cây nẹp loại dùng làm khung tranh bằng nhựa đánh nhiều cái vào người anh N gây thương tích 11%.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà.

[2]. Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, chứng minh đầy đủ các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, như vậy quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm…;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trương hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm, không những làm tổn hại đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất ổn định trật tự, trị an xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được rằng, sức khỏe của con người là vốn quý luôn được pháp luật Nhà nước ta tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến sức khỏe của người khác đều bị pháp luật trừng trị. Song do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác mà bị cáo đã gây thương tích cho anh Nguyễn Danh N. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo gây thương tích cho anh N cũng do nguyên nhân anh N đòi đánh bị cáo trước và sau đó dùng ghế nhựa đánh bị cáo thương tích ở vùng mắt trái, ngoài ra trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, đối với bị cáo không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, mà để bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe.

Đối với hành vi của anh Nguyễn Danh N, chị Lê Nhật Q và người thanh niên tên L, có hành vi dùng ghế đánh bị cáo Hoàng Văn T gây thương tích tỷ lệ 02%. Nhưng Hoàng Văn T đã viết đơn bãi nại và không yêu cầu khởi tố, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Danh N, chị Lê Nhật Q và ra Quyết định xử phạt hành chính là phù hợp. Riêng đối với người thanh niên tên L hiện Không xác định được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tách ra khỏi vụ án tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

[3]. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, được người bị hại làm đơn bãi nại đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo trong khi lượng hình để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[4]. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.

- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho anh Nguyễn Danh N, anh N không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 03 thanh nhựa màu đen có họa tiết màu vàng có kích thước (28 x 07)cm; (27 x 7)cm; (10 x 7)cm, là hung khí bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 02 chiếc ghế xếp loại ghế có khung bằng Inox có chiều cao 60cm, rộng 40cm. Quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Nguyễn Thị Mai P. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 02 chiếc ghế trên cho chị P nhận sử dụng.

[5]. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Thắng Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk cùng với gia đình quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

* Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.

- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho anh Nguyễn Danh N, anh N không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy 03 thanh nhựa màu đen có họa tiết màu vàng có kích thước (28 x 07)cm; (27 x 7)cm; (10 x 7)cm, là hung khí bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Mai P 02 chiếc ghế xếp loại ghế có khung bằng Inox có chiều cao 60cm, rộng 40cm.

(Tang vật có đặc điểm như trong biên bản giao nhân vật chứng giữa Cơ quan Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 04/9/2019).

* Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 251/2019/HSST ngày 26/09/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:251/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về