Bản án 25/2017/DS-PT ngày 15/09/2017 về kiện đòi bồi thường thiệt hại sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 25/2017/DS-PT NGÀY 15/09/2017 VỀ KIỆN ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI SỨC KHOẺ, DANH DỰ, NHÂN PHẨM BỊ XÂM PHẠM

Ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 17/2017/TLPT- DS, ngày 22 tháng 8 năm 2017, về việc “Kiện đòi bồi thường thiệt hại sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 32/2017/DS–ST ngày 20/06/2017, của Tòa án nhân dân huyện Y bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 20/2017/QĐ-PT, ngày 29 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn chị PhanThị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 12/7/2016 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Thị L trình bày:

Khoảng 18 giờ ngày 28/12/2015 (âm lịch) tức ngày 06 tháng 2 năm 2016 dương lịch chị sang thăm và gửi quà tết cho bố chồng chị là ông Vũ Đình N sống cùng nhà ông Vũ Việt H1 là bố đẻ của chị Vũ Thị H. Sau đó chị đi về nhà, đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi chị đang ngồi tại nhà và có ông Phạm Văn T người cùng xã M tới nhà chị để mua rượu thì bất ngờ chị Vũ Thị H là con ông H1 (anh trai của chồng chị) lao vào nhà tát vào mặt chị nhiều cái làm xây sát mặt mũi và chửi chị. Khi chị chống cự lại thì có anh Vũ Văn Đ1 và anh Phạm Văn T lôi chị H ra khỏi nhà chị, sau đó chị H và anh Đ1 đi về. Khoảng 30 phút sau chị đến nhà trưởng thôn báo cáo sự việc. Chiều ngày 07/2/2015 chị đến bệnh viện Suối Khoáng kiểm tra, kết quả chị bị xây sát mặt mũi thâm tím hai bên vai, chị không nằm viện mà xin điều trị ngoại trú (vì giáp tết). Chị đã mua thuốc theo đơn của bác sỹ là 415.000đ (Bốn trăm mười lăm nghìn đồng).

Việc chị H đến nhà chửi bới đánh chị đã làm thiệt hại về sức khỏe và ảnh hưởng đến danh dự, uy tín và nhân phẩm của chị. Chị khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị Vũ Thị H phải bồi thường cho chị số tiền như sau:

- Tiền mua thuốc là 415.000đ.

- Tiền bồi thường danh dự nhân phẩm là 10.000.000đ.

- Tổng số tiền chị yêu cầu chị H phải bồi thường là 10.415.000đ.

- Tại phiên toà sơ thẩm chị đề nghị chị Vũ Thị H phải bồi thường cho chị tổng số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Vũ Thị H trình bày: Chị có quan hệ thím cháu với chị Phan Thị L (Chị L là thím còn chị là cháu, chị L là vợ của chú ruột chị tên là Vũ Hồng V đã chết).

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/2/2016 chị có đến nhà chị L do trước đó chị L có sang nhà bố mẹ chị, trong khi chị L có mâu thuẫn với bố mẹ chị, chị L lợi dụng khi bố mẹ chị không ai ở nhà để sang nhà thăm ông nội chị là bố chồng chị L. Sau khi chị L về mẹ chị rất bức xúc, nên khi chị đến nhà nghe mẹ chị kể lại, chị có đi cùng bà Nguyễn Thị H2 (là thím) đến nhà chị L mục đích để nói cho chị L biết từ nay đừng đến nhà bố mẹ chị nữa. Khi đến nhà chị L thấy có ông Phạm Văn T đang ngồi ở bàn uống nước, chị có chỉ tay vào mặt chị L và nói “ từ nay tao cấm mày sang nhà bố mẹ tao” thì chị L nhảy lên ghế cầm ấm nước siêu tốc ném vào người chị, chị tránh được. Sau đó hai bên lời qua tiếng lại lao vào nhau giằng co, chị cầm áo chị L, chị L túm tóc chị sau đó được ông T và anh Đ1 can ngăn, ông T giữ chị hai bên không giằng co nhau nữa sau đó chị đi về. Vụ việc đã được công an xã M, huyện Y giải quyết và đã ra quyết định xử phạt hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự theo Nghị định 167 đối với chị bằng hình thức: Cảnh cáo, theo Điều 5, khoản 1, điểm a. Bản thân chị cũng đã đến nhà chị L để xin lỗi chị L với tư cách là một người cháu nhưng chị L không nhất trí.

Chị xác định chị không đánh chị L mà hai bên chỉ xông vào giằng co nhau nên chị không gây thương tích cho chị L. Việc chị L khởi kiện yêu cầu chị bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm với các khoản tiền thuốc là 415.000đ, tiền bồi thường sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm là 10.000.000đ, chị không nhất trí với bất cứ một yêu cầu nào của chị Phan Thị L.Tại phiên toà sơ thẩm chị L yêu cầu chị phải bồi thường số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) chị không nhất trí.

Vụ kiện trên đã được Toà án nhân dân huyện Y thụ lý, hoà giải nhưng không thành và đã đưa vụ án ra xét xử. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 32/2017/DS – ST ngày 20 tháng 6 năm 2017, của Tòa án nhân dân huyện Y quyết định:

1. Căn cứ các Điều 26, 266, 267, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 585; 590; 592 Bộ luật dân sự;

- Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn về bồi thường ngoài hợp đồng.

- Điểm d, khoản 1 Điều 12 NQ số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

2. Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị L về bồi thường thiệt hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị L về việc yêu cầu chị Vũ Thị H phải bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

3. Về án phí: Chị Phan Thị L được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 05/7/2017 Tòa án nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn chị Phan Thị L với nội dung: Không nhất trí bản án sơ thẩm. Ngày 07/8/2017 chị Phan Thị L có đơn kháng cáo bổ sung với nội dung: Không nhất trí bản án sơ thẩm đã bác yêu cầu của chị đòi chị H phải bồi thường số tiền 10.000.000đ. Đề nghị Tòa án phúc thẩm xem xét yêu cầu của chị buộc chị H phải bồi thường số tiền 10.000.000đ.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị: Chị H phải bồi thường tiền thuốc theo đơn 415.600đ và xin lỗi chị, nếu chị H không xin lỗi thì đề nghị chị H phải bồi thường cả khoản tiền thiệt hại về danh dự, nhân phẩm cho chị là 9.584.400đ.

Tại phiên tòa bị đơn chị Vũ Thị H đề nghị: Chị không đánh chị L nên chị không có nghĩa vụ bồi thường các khoản thiệt hại về sức khỏe, danh dự nhân phẩm như chị L yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm. Đơn kháng cáo cña nguyên đơn chị Phan Thị L hợp lệ, trong hạn luật định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận 1 phần yêu cầu kháng cáo của chị Phan Thị L sửa bản án dân sự sơ thẩm 32/2017/DS – ST ngày 20 tháng 6 năm 2017, của Tòa án nhân dân huyện Y, buộc chị Vũ Thị H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho chị L số tiền 277.000đ. Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1.Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn Phan Thị L yêu cầu chị H phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm số tiền 10.000.000đ.

Xét thấy do có mâu thuẫn từ trước nên vào khoảng 20 giờ ngày 06/02/2016 chị Vũ Thị H đến nhà chị Phan Thị L đã có lời nói chửi bới, xúc phạm chị L dẫn đến hai bên xông vào giằng co xô sát với nhau. Sau khi được can ngăn hai bên chấm dứt chị H đi về nhà, chị L đến nhà trưởng thôn báo cáo và chiều ngày hôm sau chị đến Bệnh viện suối khoáng ML thuộc Sở Y tế tỉnh Tuyên Quang khám, Bệnh viện suối khoáng ML xác nhận “Người bệnh Phan Thị L chấn thương phần mềm vùng mặt và vai” và chiếu/chụp X quang khớp vai hai bên, kết quả chiếu chụp “Hình ảnh khớp vai 2 bên thẳng hiện tại không phát hiện hình ảnh tổn thương”.

Hành vi vi phạm của chị Vũ Thị H công an xã M, huyện Y đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 04 ngày 16/3/2016 với hình thức cảnh cáo về hành vi “có lời nói và xô sát với chị L gây mất trật tự khu dân cư” vi phạm điểm a, khoản 1, Điều 5, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ quy định về sử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Tại biên bản xác minh ngày 20/12/2016 bác sỹ Mông Trường G (Bệnh viện suối khoáng ML) xác nhận: Ngày 7/2/2016 chị Phan Thị L đến Bệnh viện suối khoáng ML khám bệnh do chị L yêu cầu khám lý do bị đau chấn thương phần mềm. Sau khi kiểm tra sức khỏe, đã chuẩn đoán “chấn thương phần mềm vùng mặt và vai” và chụp X quang hai bên vai, bệnh viện đã kê đơn thuốc cho chị L về điều trị (không kê giá thuốc), chị L không nằm viện điều trị nên không có bệnh án.

Tại biên bản xác minh của Tòa án cấp phúc thẩm tại quầy bán thuốc khu vực Bệnh viện Suối khoáng số tiền thuốc theo đơn thuốc đã kê ngày 7/2/2017 là 415.600đ.

Nhân chứng ông Phạm Văn T xác nhận: Khoảng 20 giờ ngày 6/2/2016 ông đến nhà chị Phan Thị L mua rượu có chứng kiến chị Vũ Thị H đứng ở cửa nhà chị L chửi rồi lao vào nhà nhảy lên bàn uống nước nhà chị L, túm áo chị L, chị L túm tóc chị H 2 bên giằng co nhau ông can ngăn túm chân chị H và chị H cầm ấm siêu tốc định ném chị L ông giật tay ấm rơi xuống đất. Người đàn ông đi cùng chị H can ngăn đẩy chị L về phía cầu thang, hai bên tiếp tục chửi nhau chị H lao vào ông can ngăn sau đó hai bên không cãi chửi nhau nữa ông đi về.

Hành vi trái pháp luật của chị H đã gây thương tích “Chấn thương phần mềm vùng mặt và vai” cho chị L nên việc chị L khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe là có căn cứ. Chị L yêu cầu bồi thường danh dự, nhân phẩm số tiền 9.584.400đ thấy rằng chị L không đưa ra được thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm; không chứng minh chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút, các thiệt hại khác do luật quy định, vì vậy không có cơ sở để xem xét yêu cầu kháng cáo về nội dung này của chị L.

Việc xô sát giữa chị H và chị L đã gây thiệt hại về sức khoẻ cho chị L, nhưng các bên đều có lỗi phía chị H đã đến nhà chị L chửi bới lao vào túm áo chị L, phía chị L túm tóc chị H 2 bên giằng co chửi bới nhau mặc dù đã có người can ngăn. Tuy nhiên chị H có lỗi nhiều hơn 2/3 lỗi, chị L có lỗi ít hơn 1/3 lỗi vì vậy chị L phải chịu 1 phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Từ những nhận định trên chấp nhận 1 phần yêu cầu kháng cáo của chị L, sửa bản án sơ thẩm, buộc chị H phải có nghĩa vụ bồi thường chi phí khắc phục thiệt hại về sức khỏe cho chị L, số tiền theo đơn thuốc 415.600đ theo phần lỗi của chị H (415.600: 3 x 2 = 277.000đ (làm tròn số).

2. Về án phí phúc thẩm: Chị L được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại diểm d khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3. Sửa án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường thiệt hại cho chị L.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 584, 585, 586, 588, 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Phan Thị L.

2. Sửa bản án sơ thẩm như sau: Buộc chị Vũ Thị H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho chị Phan Thị L số tiền 277.000đ (Hai trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án chị Phan Thị L cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án chị Vũ Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí phúc thẩm: Chị Phan Thị L được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm dân sự.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường cho chị Phan Thị L.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (15/9/2017).

Trường hợp bản án Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


76
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về