Bản án 25/2017/DS-ST ngày 09/08/2017 về tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 25/2017/DS-ST NGÀY 09/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ GÓP HỤI

Ngày 09 tháng 8 năm 2017 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2016/TLST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2016 về tranh chấp “hợp đồng dân sự góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án raxét xử số: 62/2017/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2017/QĐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1969 (có mặt)

- Bị đơn:

1. Ông Võ Văn N, sinh năm 1971 (vắng mặt)

2. Bà Viên Thị T2, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Cùng cư trú tại: ấp I, xã H, huyện M, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/8/2016, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 06/10/2016 và ngày 27/10/2016 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Lê Thị T1 trình bày:

Vào ngày 10/12/2013 bà có mở và làm chủ dây hụi 2.000.000 đồng , hụi có 25 phần , mỗi tháng mở 01 lần vào ngày 10 hàng tháng, hụi có lãi và có hoa hồng (tiền cò mỗi phần 1.000.000 đồng) .

Dây hụi này ông N bà T2 tham gia 01 phần nhưng giữa bà và ông N, và T2 thống nhất mỗi người 1/2, cụ thể: Hụi này hết 01 phần 2.000.000 đồng thì mỗi bên góp 1.000.000 đồng. Ngay lần đầu mở hụi thì hai bên thống nhất bỏ thăm nên lĩnh hụi được số tiền 32.600.000 đồng, ông N và bà T2 được 16.300.000 đồng, còn bà được 16.300.000 đồng. Như vậy ông N, bà T2 có nghĩa vụ góp hụi chết cho bà 24 lần bằng 24.000.000 đồng, nhưng ông N, bà T2 chỉ góp được 19 lần bằng 19.000.000 đồng nên còn nợ lại 15.000.000 đồng

Nay yêu cầu giải quyết buộc ông Võ Văn N, bà Viên Thị T2 phải trả cho bà số tiền hụi chết còn thiếu là 5.000.000đ (Năm triệu đồng), ngoài ra không yêu cầu gì khác.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Lê Thị T1 thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể chỉ yêu cầu ông N, bà T2 phải trả cho bà số tiền hụi chết còn thiếu là 4.000.000 đồng đúng như ý kiến thừa nhận nợ của ông N, bà T2.

- Bị đơn ông Võ Văn N, bà Viên Thị T2 vắng mặt lần thứ hai, không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn bà T1 trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đối với người tham gia tố tụng bị đơn ông N, bà T2 trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là chưa đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông N, bà T2 phải trả cho bà T1 số tiền hụi chết còn thiếu là 4.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo cho bị đơn ông Võ Văn N, bà Viên Thị T2 biết và quy đinh thời gian để đồng bị đơn có ý kiến về việc khởi kiện “Tranh chấp về hợp đồng dân sự góp hụi” của nguyên đơn bà Lê Thị T1. Nhưng bị đơn ông N, bà T2 không có ý kiến gì và cũng không cung cấp chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Do đó, Tòa án vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Sau đó, Tòa án tiến hành Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông N, bà T2, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn ông N, bà T2 vẫn cố tình vắng mặt không lý do. Như vậy, được xác định đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Bị đơn,........đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt”.

Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, và đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập cho bị đơn ông N, bà T2, nhưng bị đơn ông N, bà T2 vắng mặt không có lý do nên HĐXX phải hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự để mở phiên tòa xét xử lần thứ hai đã được tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông N, bà T2, nhưng bị đơn ông N, bà T2 vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà T1 không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông N, bà T2 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

 [2] Về nội dung: Khi gửi đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Lê Thị T1 yêu cầu giải quyết buộc bị đơn ông Võ Văn N, bà Viên Thị T2 phải trả cho bà số tiền hụi chết còn thiếu là 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà T1 xác định bà thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Võ Văn N, bà Viên Thị T2 phải trả cho bà số tiền hụi chết còn thiếu là 4.000.000 đồng. HĐXX xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn bà T1 đối với bị đơn ông N, bà T2 không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên chấp nhận xem xét yêu cầu thay đổi này của nguyên đơn bà T1 là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

 [3] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà T1 thấy rằng, giữa nguyên đơn bà T1 và bị đơn ông N, bà T2 đã xác lập hợp đồng dân sự góp hụi với nhau và hiện tại bị đơn ông N, bà T2 thừa nhận còn nợ nguyên đơn bà T1 số tiền hụi chết là 4.000.000 đồng đến nay chưa trả.

Theo nguyên đơn bà T1 trình bày thì hợp đồng này hai bên xác lập ngày10/12/2013, nhưng phía bị đơn ông N, bà T2 không xác định được thời gian nào và hiện tại hai bên cũng không tranh chấp phần này nên HĐXX không cần thiết xác định chính xác thời gian áp hụi. Bởi, hiện nay nguyên đơn bà T1 yêu cầu bị đơn ông N, bà T2 trả cho bà số tiền hụi chết còn thiếu là 4.000.000 đồng và bị đơn ông N, bà T2 đã đồng ý đúng với yêu cầu của nguyên đơn nêu ra (Bút lục số 35).

Vì vậy, nay ông N, bà T2 phải có trách nhiệm trả cho bà T1 số tiền hụi còn thiếu là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), vì đây là nghĩa vụ của thành viên góp hụi đối với chủ hụi theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 và các điều 7, 8, 25, 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà T1 là có căn cứ để chấp nhận toàn bộ.

 [4] Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27-02-2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy địnhvề án phí, lệ phí Tòa án thì: Bị đơn ông Võ Văn N, bà Viên Thị T2 phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 241 và khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 7, 8, 25, 30 Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27-02-2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Buộc ông Võ Văn N, bà Viên Thị T2 phải trả cho bà Lê Thị T1 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) tiền hụi còn thiếu.

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Thị T1, nếu ông Võ Văn N, bà Viên Thị T2 không trả hoặc trả không đủ số tiền nêu trên cho bà Lê Thị T1 thì hàng tháng ông Võ Văn N, bà Viên Thị T2 còn phải trả tiền lãi cho bà Lê Thị T1 theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí:

- Bị đơn ông Võ Văn N, bà Viên Thị T2 phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Nguyên đơn bà Lê Thị T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Lê Thị T1 125.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0000127 ngày 22 tháng 12 năm 2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2017/DS-ST ngày 09/08/2017 về tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi

Số hiệu:25/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Minh - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về