Bản án 25/2017/DS-ST ngày 20/06/2017 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 25/2017/DS-ST NGÀY 20/06/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2016/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2017 về việc “tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2016/QĐXX-ST ngày 01 tháng 06 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị K; Sinh năm: 1970; Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện P, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thanh C. Tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C; Sinh năm: 1965; Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện lập ngày 08/5/2017, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị K thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn bà Phạm Thanh C (tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C) hoàn trả đủ một lần số tiền hụi bà K đã góp thay cho bà C 02 kỳ (kỳ 05 mở ngày 25/11/2016 âm lịch và kỳ 06 mở ngày 25/02/2017 âm lịch) với số tiền là 20.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi, vì vào ngày 25/8/2015 âm lịch, bà K làm chủ hụi mở một dây hụi giá 10.000.000 đồng, gồm có 09 phần hụi, 01 năm mở hụi 03 lần vào các thời gian là 25/02, 25/8, 25/11, hụi có lãi và mỗi kỳ mở hụi bà K được hưởng hoa hồng là 5.000.000 đồng, bà C là hụi viên tham gia góp 01 phần hụi, khi hụi mở lần đầu vào ngày 25/8/2015 âm lịch thì bà C bỏ thăm cao nhất trong các hụi viên và hốt hụi được số tiền là 44.000.000 đồng, sau khi hốt hụi bà C góp lại hụi chết được 03 kỳ (kỳ 02, kỳ 03, kỳ 04) thì không góp tiếp, tính đến khi mãn hụi vào ngày 25/02/2018 âm lịch thì bà C còn nợ bà K 05 kỳ hụi chết với số tiền là 50.000.000 đồng, bà K đã góp thay cho bà C được 02 kỳ (kỳ 05 mở ngày 25/11/2016 âm lịch và kỳ 06 mở ngày 25/02/2017 âm lịch) với số tiền là 20.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Phạm Thanh C (tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C) thống nhất về toàn bộ nội dung hợp đồng góp hụi giữa nguyên đơn bà Trần Thị K và bà C, bà C thừa nhận tính đến khi mãn hụi vào ngày 25/02/2018 âm lịch thì bà C còn nợ bà K 05 kỳ hụi chết với số tiền là 50.000.000 đồng, bà K đã góp thay cho bà C được 02 kỳ (kỳ 05 mở ngày 25/11/2016 âm lịch và kỳ 06 mở ngày 25/02/2017 âm lịch) với số tiền là 20.000.000 đồng và bà C thống nhất hoàn trả cho bà K số tiền này, nhưng hiện nay hoàn cảnh kinh tế của bà C khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng là 2.000.000 đồng.

- Tại phiên toà, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Thâm phan Thư ký , Hôi đông  xét xử và những người tham gia tố tụng trong qua trinh giai quyêt vu an kê tư khi thu ly vu án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy đinh cua phap luât vê tô tung dân sư . Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 20, Điều 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền hụi gốc là 20.000.000 đồng.

- Để chứng minh cho yêu cầu của mình nguyên đơn bà Trần Thị K cung cấp cho Tòa án “Tờ cam kết theo hợp đồng hụi mùa” (bút lục 20). Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị K và bị đơn bà Phạm Thanh C (tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C) thống nhất về toàn bộ nội dung hợp đồng góp hụi giữa bà K và bà C, bà C thừa nhận tính đến khi mãn hụi vào ngày 25/02/2018 âm lịch thì bà C còn nợ bà K 05  kỳ  hụi  chết với số tiền là 50.000.000 đồng, bà K đã góp thay cho bà C được 02 kỳ (kỳ 05 mở ngày 25/11/2016 âm lịch và kỳ 06 mở ngày 25/02/2017 âm lịch) với số tiền là 20.000.000 đồng và bà C thống nhất hoàn trả cho bà K số tiền này. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các tình tiết nêu trên là tình tiết không phải chứng minh trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị K thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn bà Phạm Thanh C (tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C) hoàn trả đủ một lần số tiền hụi bà K đã góp thay cho bà C 02 kỳ (kỳ 05 mở ngày 25/11/2016 âm lịch và kỳ 06 mở ngày 25/02/2017 âm lịch) với số tiền là 20.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị K, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất xác định vào ngày 25/8/2015 âm lịch, bà K làm chủ hụi mở một dây hụi giá 10.000.000 đồng, gồm có 09 phần hụi, 01 năm mở hụi 03 lần vào các thời gian là 25/02, 25/8, 25/11, hụi có lãi và mỗi kỳ mở hụi bà K được hưởng hoa hồng là 5.000.000 đồng, bà C là hụi viên tham gia góp 01 phần hụi, khi hụi mở lần đầu vào ngày 25/8/2015 âm lịch thì bà C bỏ thăm cao nhất trong các hụi viên và hốt hụi được số tiền là 44.000.000 đồng, sau khi hốt hụi bà C góp lại hụi chết được 03 kỳ (kỳ 02, kỳ 03, kỳ 04) thì không góp tiếp, tính đến khi mãn hụi vào ngày 25/02/2018 âm lịch thì bà C còn nợ bà K 05 kỳ hụi chết với số tiền là 50.000.000 đồng, bà K đã góp thay cho bà C được 02 kỳ (kỳ 05 mở ngày 25/11/2016 âm lịch và kỳ 06 mở ngày 25/02/2017 âm lịch) với số tiền là 20.000.000 đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các tình tiết nêu trên là tình tiết không phải chứng minh trong vụ án nên Hội đồng xét xử khẳng định bà C nợ bà K 02 kỳ hụi (kỳ 05, 06) với số tiền là 20.000.000 đồng. Xét về hợp đồng góp hụi giữa bà K và bà C thì tại thời điểm hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, các bên tự nguyện giao kết hợp đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 117, Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 7, Điều 8, Điều 20, Điều 25 và khoản 2 Điều 30 Nghị định số 144/2006/NĐ – CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường nên các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận, tại phiên tòa bị đơn bà C thừa nhận sau khi hốt hụi thì góp chụi chết cho bà K được 03 kỳ thì không góp tiếp và bà K đã góp thay cho bà C 02 kỳ hụi chết (kỳ 05, 06), do đó bà C đã vi phạm thỏa thuận nên việc bà K yêu cầu bà C hoàn trả số tiền hụi chết bà K đã góp thay cho bà C 02 kỳ (kỳ 05, 06) là 20.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[4] Ngoài ra, khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Trần Thị K có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Phạm Thanh C (tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C) phải trả lãi cho bà K theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[5] Đối với việc bà Phạm Thanh C (tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C) yêu cầu được trả dần số tiền 20.000.000 với mức mỗi tháng trả là 2.000.000 đồng, xét yêu cầu của bà C không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà thuộc thẩm quyền của Chi cục Thi hành án dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Trên cơ sở đó, xét yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị K và đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn bà Phạm Thanh C (tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C) phải chịu 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117,khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015;  Điều 7, Điều 8, Điều 20, Điều 25, khoản 2 Điều 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 Chính Phủ họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị K. Buộc bị đơn bà Phạm Thanh C (tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C) có nghĩa vụ hoàn trả cho bà K số tiền hụi gốc là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Trần Thị K có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Phạm Thanh C (tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C) phải trả lãi cho bà K theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Phạm Thanh C (tên gọi khác: Phạm Thị Thanh C) phải chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.Nguyên đơn bà Trần Thị K không phải  chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho bà K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000 đồng (Một triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0006792, ngày 08/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền giao kết thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2017/DS-ST ngày 20/06/2017 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:25/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/06/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về