Bản án 25/2018/DS-ST ngày 22/05/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 25/2018/DS-ST NGÀY 22/05/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 242/2017/TLST- DS ngày 07 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2018/QĐXXST- DS ngày 17 tháng 4 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số:08/2018/QĐST-DS ngày 04/5/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP ĐT Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng). Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tấn Đăng Kh – Chuyên viên phụ trách xử lý nợ Ngân hàng TMCP ĐT Việt Nam – Chi nhánh Ninh Thuận (Quyết định ủy quyền số 1673/QĐ-BIDV.NT ngày 01/9/2017, ông Kh có mặt).

Bị đơn: Đỗ Thị Tuyết Ng, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Nơi cư trú: khu phố 6, phường Ph, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm,tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23-10-2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn ông Phạm Tấn Đăng Kh trình bày:

Bà Đỗ Thị Tuyết Ng và ông Phạm Đức H đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP ĐT Việt Nam – Chi nhánh Ninh Thuận (Ngân hàng) theo Hợp đồng tín dụng số Q63501/2013/HĐ ngày 11/11/2013, cụ thể như sau: Số tiền vay:60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng); Thời hạn vay: 60 tháng; Mục đích vay: tiêu dùng; Lãi suất vay ban đầu 11%/năm.

Người có nghĩa vụ trả nợ chung: ông Phạm Đức H (chồng bà Ng) Kỳ hạn trả nợ: Hàng tháng; số tiền trả nợ hàng tháng: 1.362.000đồng; Lịch sử trả nợ: Tiền gốc đã trả: 8.544.625 đồng; Tiền lãi đã trả: 4.425.605 đồng. Tổng dư nợ của bà Đỗ Thị Tuyết Ng tính đến ngày 03/5/2018 là 76.416.666 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 51.455.375 đồng; Nợ lãi:24.961.291 đồng (trong đó lãi trong hạn là 22.258.481đồng, lãi phạt quá hạn là 2.702.810 đồng).

Đến nay, toàn bộ nợ vay theo hợp đồng tín dụng nêu trên đã quá hạn. Do vậy bà Đỗ Thị Tuyết Ng đã vi phạm hợp đồng tín dụng với Ngân hàng về việc trả nợ vay. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Đỗ Thị Tuyết Ng phải trả ngay toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng tổng số nợ tính đến ngày 03/5/2018 là 76.416.666 đồng; Yêu cầu Tòa án buộc bà Đỗ Thị Tuyết Ng phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số nợ trên tính từ ngày 04/5/2018 theo hợp đồng tín dụng đã được ký kết cho đến khi trả hết nợ vay. Ngân hàng xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Đức H có trách nhiệm trả nợ vay cùng bà Ng.

Bị đơn bà Đỗ Thị Tuyết Ng đã được Tòa án niêm yết triệu tập hợp lệ đến Tòa án để ghi lời khai vào ngày 02/02/2018, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 09/3/2018 và ngày 25/3/2018. Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 17/4/2018 nhưng bà Ng vẫn không có mặt tại Tòa án, do đó Tòa án không ghi lời khai và không tiến hành phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải được.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Phan Rang – Tháp Chàm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký luôn tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và người tham gia tố tụng dân sự là nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn, vắng mặt nhưng Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là buộc bị đơn bà Đỗ Thị Tuyết Ng phải có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nợ vay là 76.416.666 đồng và lãi phát sinh theo yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà. Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Ngân hàng TMCP ĐT Việt Nam khởi kiện bà Đỗ Thị Tuyết Ng về hợp đồng tín dụng. Căn cứ Biên bản xác minh ngày 02/02/2018 của Tòa ánnhân dân Tp. Phan Rang – Tháp Chàm, bà Ng hiện cư trú tại khu phố 6, phường Ph, Tp. Phan Rang – Tháp Chàm. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Tp. Phan Rang – Tháp Chàm theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Về sự vắng mặt của bị đơn bà Đỗ Thị Tuyết Ng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, do bị đơn không có mặt tại địa chỉ nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên, nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ cư trú của bị đơn ghi trong giao dịch Hợp đồng tín dụng. Việc bị đơn không có mặt ở địa phương và thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho phía nguyên đơn về nơi cư trú mới theo khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng theo thủ tục chung thông qua hình thức niêm yết công công khai các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bà Ng vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.

Về nội dung:

[2] Theo Hợp đồng tín dụng số Q63501/2013/HĐ ngày 11/11/2013, Giấy đề nghị vay vốn ngày 04/11/2013 và lời trình bày của đại diện nguyên đơn thể hiện Ngân hàng TMCP ĐT Việt Nam - Chi nhánh Ninh Thuận đã giải ngân cho bà Ng vay số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 11%/ năm là có thật. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Ng đã thanh toán theo hợp đồng đã ký, cụ thể như sau: Tiền gốc đã trả: 8.544.625 đồng; Tiền lãi đã trả: 4.425.605 đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Đỗ Thị Tuyết Ng trả số tiền nợ vay tạm tính đến ngày 03/5/2018 tổng cộng số nợ cả gốc và lãi là 76.416.666 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 51.455.375 đồng; Nợ lãi: 24.961.291đồng (trong đó lãi trong hạn là 22.258.481đồng, lãi phạt quá hạn là 2.702.810 đồng). Ngân hàng yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 04/5/2018 cho đến khi bà Ng trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng đã ký là có căn cứ.

[3] Do bà Ng vi phạm nghĩa vụ trả nợ hàng tháng nên Ngân hàng được quyền thu nợ trước thời hạn và chuyển khoản nợ gốc quá hạn chưa thanh toán sang lãi quá hạn và áp dụng lãi quá hạn quy định tại Điều 3, điểm e khoản 4 Điều 9 của Phụ lục Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của Ngânhàng Nhà nước về việc cho vay của các tổ chức tín dụng tại điều 3 và điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Mặc khác, bị đơn bà Ng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không phản đối chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh (khoản 2 điều 92 của BLTTDS).

Căn cứ các điều 357, 463, 466, 468 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở nên chấp nhận toàn bộ.

[4] Đối với ý kiến của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu giải quyết tại Đơn khởi kiện về việc không yêu cầu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Đức H phải có trách nhiệm trả nợ vay cho Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu này không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Theo quy định tại khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí, được hoàn lại án phí tạm nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 357, 463, 466, 468, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàngTMCP ĐT Việt Nam đối với bị đơn bà Đỗ Thị Tuyết Ng.

Buộc bà Đỗ Thị Tuyết Ng có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP ĐT Việt Nam số tiền theo Hợp đồng tín dụng số Q63501/2013/HĐ ngày 11/11/2013 tính đến ngày 03/5/2018 cả gốc và lãi là 76.416.000đ (bảy mươi sáu triệu bốn trăm mười sáu ngàn đồng, làm tròn số).

Bà Đỗ Thị Tuyết Ng phải tiếp tục chịu lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán tính từ ngày 04/5/2018 theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Hợp đống tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng TMCP ĐT Việt Nam xin thay đổi một phần yêu cầu giải quyết tại Đơn khởi kiện về việc không yêu cầu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Đức H có trách nhiệm trả nợ vay cho Ngân hàng.

Về án phí:

Bà Đỗ Thị Tuyết Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 3.820.000đ (ba triệu tám trăm hai mươi ngàn đồng, đã làm tròn số).

Ngân hàng TMCP ĐT Việt Nam không phải chịu án phí, được hoàn lại số tiền 1.809.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0014405 ngày 03/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Phan Rang – Tháp Chàm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2018/DS-ST ngày 22/05/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:25/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về