Bản án 25/2019/DS-PT ngày 21/03/2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 25/2019/DS-PT NGÀY 21/03/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI SỨC KHỎE 

Ngày 21 tháng 3 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 231/2018/TLPT-DS ngày 21 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 192/2018/DS-ST ngày 17/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2019/QĐ-PT ngày 05 tháng 01năm 2019, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1986 (Có mặt) Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, thành phố Cần Thơ.

*Bị đơn: Ông Huỳnh văn S, sinh năm 1980 (Có mặt) Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, thành phố Cần Thơ.

*Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông NLQ1, sinh năm 1987 (Có mặt); Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, thành phố Cần Thơ.

2. Bà NLQ2, sinh năm 1982 (Có mặt); Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Huỳnh Văn S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:

Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 14/12/2017, bà điều khiển xe đạp lưu thông trên đường khu dân cư vượt lũ xã B, huyện C, thành phố Cần Thơ, bà đạp xe đi thẳng phía bên phải, anh S điều khiển xe máy chạy phía sau xe bà nên bà không thấy anh S. Sau đó, anh S điều khiển xe vượt qua bà rồi vướng vào xe bà, bà ngã vào bên lề. Tai nạn xảy ra làm bà bị gãy xương đùi phải, phải nằm viện điều trị 11 ngày, chi phí phẫu thuật, chi phí điều trị và chi phí phục hồi cụ thể như sau:

- Tiền thuốc điều trị tại bệnh viện (có toa vé): 28.769.479 đồng;

- Đơn thuốc xuất viện: 590.800 đồng;

- Chi phí ăn uống 11 ngày (cho 1 người bệnh và 1 người nuôi): 2.200.000 đồng;

- Mua dụng cụ (tó, tả lót, nẹp…) không có hóa đơn: 5.400.000 đồng;

- 4 lần đi tái khám:

+ Tiền xe: 700.000 đồng x 4 chuyến = 2.800.000 đồng;

+ Tiền thuốc: 700.000 đồng.

- Tiền công lao động của hai vợ chồng:

+ Tiền công lao động của bà: 200.000 đồng/ngày x 120 ngày = 24.000.000 đồng.

+ Tiền công lao động của chồng bà chăm sóc bà trong thời gian bà nằm viện và phục hồi tại nhà: 200.000 đồng/ngày x 45 ngày = 9.000.000 đồng.

Tổng cộng: 73.460.279 đồng.

Tai nạn xảy ra là do lỗi của ông S, khi bà bị nạn thì ông S bỏ đi không cứu giúp. Nay bà yêu cầu ông S phải có trách nhiệm bồi thường cho bà số tiền 73.460.279 đồng.

Ông NLQ1 thống nhất với phần trình bày của bà H.

Bị đơn ông Huỳnh văn S trình bày: Vào khoảng 07 giờ sáng ngày 14/12/2017, ông điều khiển xe mô tô biển số 67L2-6015 chở 5 thùng nước (20 lít/thùng), phía trước ông để 3 thùng, phía sau để 2 thùng, có buộc dây vào xe. Đến đoạn đường khu dân cư vượt lũ Trường Xuân A (lộ khoảng 6 – 7m) thì bà H điều khiển xe đạp phía trước phía bên phải, đến đoạn ngã ba thì ông điều khiển xe chạy vượt lên phía bên trái xe của bà H nhưng vẫn còn bên lề phải nhưng do còi xe bị hư nên ông chạy vượt lên không bấm còi, bà H lách ra bên ngoài đụng vào đùi phải của ông nên tự té. Ông vẫn điều khiển xe chạy về phía trước để kịp giao nước cho khách. Sau khi ông giao nước xong thì ông đến bệnh viện đa khoa trung ương nơi bà H điều trị để thăm hỏi, ông đề nghị với phía bà H ông sẽ chịu một nữa chi phí vì lúc này Công an giao thông chưa làm việc và chưa biết ai đúng ai sai nhưng phía bà H không đồng ý và chờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Nay ông vẫn giữ ý kiến như lúc đầu, sự việc xảy ra không ai mong muốn, ông thừa nhận mình có một phần lỗi trong tai nạn của bà H vì xe ông không có còi, khi ông vượt qua xe bà H thì ông không báo hiệu nhưng phía bà H cũng đột ngột lách xe ra ngoài đụng vào đùi phải của ông nên bà H mới ngã. Ông chỉ đồng ý bồi thường một nữa chi phí điều trị tại bệnh viện gồm tiền thuốc và tiền phẫu thuật (có toa vé), còn chi phí ăn uống và tiền công lao động thì ông không đồng ý bồi thường.

Bà NLQ2 thống nhất với phần trình bày của ông S.

Tại bản án sơ thẩm số 192/2018/DS-ST ngày 17/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thới lai đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H. Buộc ông Huỳnh văn S bồi thường cho bà Huỳnh Thị H số tiền 51.175.279 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 31/10/2018, bị đơn ông Huỳnh Văn S nộp đơn kháng cáo và yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm theo hướng giảm mức tiền bồi thường. Tại phiên tòa, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên án sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn, nguyên đơn đã thỏa thuận: Bị đơn chấp nhận thêm các khoản mà nguyên đơn yêu cầu như: Tiền xe chuyến đi: 500.000đồng, chuyến về 400.000đồng; tiền mua dụng cụ: Tó, nẹp, tả lót,… 2.000.000đồng; chi phí cho việc lấy nẹp từ xương đùi của nguyên đơn ra: 5.000.000đồng. Tổng cộng: 7.900.000đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này trên cơ sở tự nguyện, không trái với pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét quan hệ pháp luật: Đây là loại kiện “ Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm” được quy định tại các Điều 26, 35, 39, 184 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật dân sự. Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn (ông Huỳnh văn S) đề nghị cấp phúc thẩm giảm mức bồi thường, nhận thấy: Tại phiếu đề xuất ngày 05/4/2018 của Công an huyện Thới Lai (BL: 01) kết luận: Lỗi gây ra tai nạn cho bà H là “Do anh Huỳnh văn S điều khiển xe vượt xe không đảm bảo an toàn gây tại nạn giao thông” điều này phù hợp với lỗi thừa nhận của ông S “Tôi thừa nhận mình có một phần lỗi trong tai nạn của chị H vì xe tôi không có còi, khi tôi vượt qua xe của chị H thì tôi không báo hiệu” (BL: 56)

Với kết luận của Công an và thừa nhận của ông S chứng tỏ ông S vi phạm Luật giao thông đường bộ 2008 tại khoản 1 Điều 14. Tuy ông S cho rằng bà H cũng có lỗi trong vụ tai nạn này nhưng chưa có dấu hiệu chứng cứ thể hiện.

[3] Về mức bồi thường: Án sơ thẩm căn cứ yêu cầu của nguyên đơn thống kê tổng cộng các khoản: 73.460.279đồng (tại trang 5 bản án sơ thẩm)

Tuy nhiên tiền mua dụng cụ như: Tó, tả lót, nẹp … tuy không có hóa đơn nhưng thực tế có xảy ra không thể không sử dụng nhưng án sơ thẩm bác toàn bộ khoản: 5.400.000đồng là có thiệt cho nguyên đơn nhưng nguyên đơn không kháng cáo, cấp phúc thẩm không xem xét lại phần này.

Các khoản còn lại:

- Chi phí theo toa vé: 29.360.279đồng

- Chi phí tái khám lại: 3.500.000đồng

- Chi phí ăn uống khi nằm viện 11 ngày:

60.000đồng/người/ngày x 11 ngày x 02người= 1.320.000đồng.

- Bồi thường mất thu nhập của người bệnh theo mức lương tối thiểu vùng III các huyện tại thành phố Cần Thơ là 3.090.000đồng/tháng (Tại Nghị định 141/2017/NĐ-CP ngày 07/12/2017) , thời gian tính 120 ngày là phù hợp: 3.090.000đ/tháng x 04 tháng = 12.360.000đồng.

- Đối với người nuôi bệnh cần phải tính mất thu nhập tương tự nhận định trên đối với bà H thì ông NLQ1, chồng của bà H cũng được tính mỗi tháng là 3.090.000đồng.

Tổng cộng các khoản trên: 51.175.279đồng.

Thấy rằng ông S kháng cáo yêu cầu hạ mức bồi thường do hoàn cảnh khó khăn nhưng không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Đối với nguyên đơn tuy không có kháng cáo nhưng qua phân tích giải thích của Hội đồng xét xử tại phiên tòa: Mặc dù nguyên đơn không có chứng từ mua nẹp, tó, tả lót… vé xe, hóa đơn tháo nẹp xương đùi của bà H nhưng ông S đồng ý thỏa thuận hỗ trợ thêm cho bà H tổng cộng 7.900.000đồng. Đây là sự tự thỏa thuận không trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí sơ thẩm, phúc thẩm, ông S phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, Áp dụng:

QUYẾT ĐỊNH

- Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 584, 585, 590 của Bộ luật dân sự;

- Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên án:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn với bị đơn. Sửa án sơ thẩm.

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H. Buộc ông Huỳnh văn S bồi thường cho bà Huỳnh Thị H tổng cộng: 59.075.279đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không chịu thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

2/ Án phí sơ thẩm: Ông S phải chịu 2.958.763đồng.

3/ Án phí dân sự phúc thẩm: Ông S không phải chịu nên ông S được nhận lại 300.000đồng theo biên lai thu số 002959 ngày 31/10/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


22
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về