Bản án 25/2019/HNGĐ-ST ngày 28/08/2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 25/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/08/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2019 về việc tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Huyền T, sinh năm 1996;

Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Nơi ở: Thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Anh Lại Hồng T1, sinh năm 1990;

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

3. Người làm chứng: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1959;

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

(Chị T có mặt, anh T1, bà N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

*/ Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2019, bản tự khai và tài liệu, chứng cứ đã xuất trình và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị Huyền T trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lại Hồng T1 tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn ngày 22/12/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận tại nhà anh T1 ở thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T1 không chịu làm ăn suốt ngày chơi bời, đi chơi thâu đêm, phá tán tài sản. Chị đã khuyên bảo động viên anh T1 nhưng không thay đổi. Đến tháng 2/2018 do không chịu đựng được nên chị đưa con về nhà mẹ đẻ chị ở. Anh T1 và gia đình có đến nhà chị tìm chị về nên chị có về nhà anh T1 tiếp tục chung sống nhưng chỉ được 1 tuần anh T1 vẫn không thay đổi và vẫn tiếp tục bán xe máy của chị nên đến tháng 4/2018 chị đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình ở và vợ chồng ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm gì đến ai. Đến nay chị thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị xin được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lại Thị Hồng D, sinh ngày 06/10/2016 hiện nay đang ở với chị. Ly hôn chị xin nuôi con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị đang làm công nhân may tại công ty MXP2, thu nhập bình quân khoảng 5.000.000 đồng/ 01 tháng, khi ly hôn chị sẽ về ở cùng bố mẹ nên mẹ con chị có chỗ ở ổn định. Bố mẹ chị đều còn khỏe nên có điều kiện phụ giúp chị trong việc chăm sóc, nuôi dạy con. Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không cho ai vay tài sản gì và không vay ai tài sản gì nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

*/ Tại biên bản xác minh với Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc khoảng 2 năm tại gia đình anh T1 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh T1 không tu chí làm ăn. Tháng 04/2018, chị T đã đưa con về nhà đẻ ở, từ đó đến nay không thấy về sinh sống tại địa phương.

*/ Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng là bà Bùi Thị N, sinh năm 1959, cư trú thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (là mẹ anh T1) thể hiện: Về thời gian, quá trình vợ chồng chung sống như chị T trình bày, vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh T1 không tu chí làm ăn, từ tháng 02/2018, chị T đã bế con về nhà đẻ ở, anh T1 đến tìm nhiều lần nhưng chị không về. Gia đình bà mong muốn chị T, anh T1 về đoàn tụ nhưng nếu chị T cố tình ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Vợ chồng có 01 con chung hiện đang ở với chị T. Nếu chị T xin nuôi con thì để chị nuôi, nếu không nuôi thì trả lại con cho anh T1. Anh T1 đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, quan điểm của anh T1 muốn đoàn tụ còn chị T muốn ly hôn thì tùy chị T.

*/Ti phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình có quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn không đến Tòa án làm việc để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; đề nghị xử cho chị T được ly hôn anh T1.

Về con chung: giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Tách ra giải quyết sau khi có yêu cầu. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị T có đơn khởi kiện xin ly hôn anh T1 và đề nghị giải quyết việc nuôi con chung nên xác định đây là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; Anh T1 có nơi cư trú tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp. Do anh T1 không tu chí lăm ăn nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng đã ly thân nhau và chấm dứt quan hệ vợ chồng từ tháng 4/2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 là có thật, đã trầm trọng, vợ chồng không thể đoàn tụ cùng nhau được nữa nên cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị T được ly hôn anh T1.

[4] Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là Lại Thị Hồng D, sinh ngày 06/10/2016, hiện nay đang ở với chị T. Xét thấy cháu D chưa đủ 36 tháng tuổi, chị T có đủ điều kiện nuôi con nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T giao con D cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về quan hệ tài sản: Do không có ý kiến của anh T1 về tài sản và chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nên tách ra giải quyết sau khi có yêu cầu.

[6] Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp lut.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 147, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Điều 6, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Huyền T được ly hôn anh Lại Hồng T1.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là Lại Thị Hồng D, sinh ngày 06/10/2016 cho chị Bùi Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lại Hồng T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị Bùi Thị Huyền T và anh Lại Hồng T1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

3. Về quan hệ tài sản: Tách ra giải quyết sau khi có yêu cầu.

4. Án phí: Chị Bùi Thị Huyền T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0003434 ngày 25/6/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình sang thành án phí ly hôn sơ thẩm.

Chị Bùi Thị Huyền T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/8/2019.

Anh Lại Hồng T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2019/HNGĐ-ST ngày 28/08/2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:25/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vũ Thư - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về