Bản án 257/2018/DS-PT ngày 17/10/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán và đòi lại tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 257/2018/DS-PT NGÀY 17/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN VÀ ĐÒI LẠI TÀI SẢN

Trong ngày 17/10/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2018/TLPT-DS, ngày 30/8/2018 về việc "Tranh chấp hợp đồng mua bán và đòi lại tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2018/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện T bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 271/2018/QĐ-PT ngày 11 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bùi Thị Tr, sinh năm 1964, có mặt

Địa chỉ: Ấp C, xã Th, huyện Tâ, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Bùi Thị L, sinh năm 1957, có mặt

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Bùi Thị L là Luật sư Phan

Văn B - Văn phòng Luật sư H, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phan Thị Cẩm V, sinh năm: 1969.

Địa chỉ: Ấp C, xã Tân H, huyện Tâ, tỉnh Đồng Tháp. (Bà Tr, bà L và Luật sư B có mặt, bà V vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn trình bày: Vào năm 2012 bà Tr có mua 01 chiếc máy gặt đập liên hợp hiệu Kubota với giá 522.000.000đ (tương đương với số vàng là 130 chỉ vàng). Trước khi mua máy bà có kêu bà L hùn công sức vì bà nghĩ tình nghĩa chị em và trước đây bà L giúp đỡ bà nhiều nên bà mới rủ hùn công vì bà thấy các con của bà L thì không có việc làm, không lo làm ăn nên bà rủ bà L hùn công sức để giúp đỡ bà L có kinh tế khá hơn, thỏa thuận sau khi mua máy về thì làm, khi đủ tiền mua máy 130 chỉ vàng trả lại cho bà thì mới bắt đầu chia đều, nhưng mới hoạt động được một thời gian với số vàng lời được 36 chỉ vàng 24K, vàng 9,8 thì bà Tr bán lại cho bà L với giá 130 chỉ vàng 24K- vàng 9,8 tuổi, hai bên thỏa thuận trừ 36 chỉ vàng 24 K, vàng 9,8 tuổi lời từ lúc mua máy đến ngày bán lại cho bà L, còn lại 94 chỉ vàng 24K, vàng 9,8 tuổi bà L phải trả tiếp, nhưng bà L trả được 64 chỉ vàng + 36 chỉ vàng lời, tổng cộng 100 chỉ vàng, còn lại 30 chỉ vàng 24K, vàng 9,8 tuổi đến nay bà L chưa trả cho bà Tr. Vì chị em ruột nên không có làm giấy tờ gì, chỉ hợp đồng miệng. Nay bà Bùi Thị Tr kiện yêu cầu bà Bùi Thị L có trách nhiệm trả cho bà Tr số vàng mua bán còn thiếu là 30 chỉ vàng 24K – vàng 9,8 tuổi.

Ngoài ra bà Tr và bà L có kiện anh Ph, chị Tu đã trả được 10 chỉ vàng24K - vàng 9,8 tuổi, 10 chỉ vàng SJC và 20.000.000đ thì bà Tr cho rằng phần của bà 10 chỉ vàng 24K, vàng 9,8 tuổi nhưng bà L đến Chi cục Thi hành án dân sựhuyện T nhận, sau khi trừ chi phí còn lại 26.940.000đ. Nay bà Tr yêu cầu bà L trả 26.940.000đ (Hai mươi sáu triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Đối với yêu cầu của bà L trả 40 chỉ vàng 24K, vàng 9,8 tuổi và5.060.000đ thì bà Tr có ý kiến như sau: Bà L cho rằng 50 chỉ vàng là của bà L là hoàn toàn không phù hợp, toàn bộ số vàng 100 chỉ vàng 24K, vàng 9,8 tuổi là của bà Tr cho bà V vay, bà L không có hùn 50 chỉ cùng với bà. Còn số tiền5.060.000đ thì nằm trong số vàng 10 chỉ vàng 24K, vàng 9,8 tuổi mà anh P, chị Tu đã trả 10 chỉ vàng 24K - vàng 9,8 tuổi, 10 chỉ vàng SJC và 20.000.000đ thì bà Tr cho rằng phần của bà 10 chỉ vàng 24K, vàng 9,8 tuổi nhưng bà L đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện T nhận, sau khi trừ chi phí còn lại 26.940.000đ nên bà Tr cho rằng đây là tiền của bà.

Đối với yêu cầu của bà L về tiền làm nền số tiền làm nền 30.000.000đ; tiền cặp phà lên xuống trị giá 3.000.000đ; tiền cắt lúa của ông U đã trả cho bà Tr là 4.000.000đ; tiền bỏ cọc máy là 10.000.000đ; tiền mua dầu 3.000.000đ. Tổng cộng 50.000.000đ thì bà Tr có ý kiến như sau:

Tiền làm nền 30.000.000đ là tiền của bà vì làm nền trước sân nhà bà, bà hoàn toàn không có lấy tiền lời từ đầu công cắt lúa để làm nền này, bà L chỉ đem theo 19 cây sắt, trị giá mỗi cây là 120.000đ, nay bà đồng ý trả lại trị giá 19 cây sắt X 120.000đ =2.280.000đ.

Tiền cặp phà lên xuống trị giá 3.000.000đ là do bà mua tiền cá nhân bà, không liên quan gì đến tiền cắt lúa, bà không lấy tiền lời để mua.

Tiền cắt lúa của ông U đã trả cho bà Tr là 4.000.000đ thì hai bên tính sổ sách xong, còn lại 36 chỉ vàng vì hai bên đối chiếu sổ sách từng đầu công.

Tiền bỏ cọc máy là 10.000.000đ hoàn toàn không có, toàn bộ tiền mua máy chỉ mình bà bỏ ra, bà L không có hùn tiền vào.

Tiền mua dầu 3.000.000đ, bà không biết gì hết, tất cả đã đối chiếu sổ sách còn lại 36 chỉ vàng và đã trừ vào tiền mua máy.

- Bị đơn trình bày: Bà thừa nhận bà Tr bán máy cho bà với giá 130 chỉ vàng 24K, vàng 9,8 tuổi, nhưng trừ 36 chỉ vàng lời, còn lại 94 chỉ vàng thì bà đã trả xong 64 chỉ vàng, tổng cộng bà đã trả 100 chỉ vàng, còn lại 30 chỉ thì bà chưa trả nhưng số vàng này bà đã hùn vào mua máy 30 chỉ để mua máy gặt đập liên hợp hiệu Kubota tại cửa hàng Minh Th chợ T thuộc khóm 1, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và 10.000.000đ tiền bỏ cọc máy.

Máy hoạt động một thời gian thì bà Tr bán luôn cho bà L máy gặt đập liên hợp nói trên và bà chỉ nói tiền hùn gặt lúa trước đây quy ra vàng là 36 chỉ vàng và buộc bà L phải giao cho bà 94 chỉ vàng 24K. Sau đó con bà L chạy máy đi làm và có lợi nhuận nên bà L đã trả thêm 64 chỉ vàng 24K cho bà Tr với hình thức trả dần (đã trả xong). Bà L đã trả đủ cho bà Tr ngày 04/8/2016, bà Tr mới giao giấy tờ cho bà L (vì chị em ruột nên không làm giấy tờ).

Đối với 10 chỉ vàng của ông P thì bà thừa nhận bà Tr có 10 chỉ vàng24K, vàng 9,8 tuổi, thời điểm này tương đương 32.000.000đ, nhưng trừ tiền luật sư, phí thi hành án còn lại 26.940.000đ bà có nhận nhưng bà trừ vào số vàng mà bà hùn 50 chỉ vàng cho bà Phan Thị Cẩm V vay, còn lại 40 chỉ nay bà yêu cầu bà Tr phải trả lại bà 40 chỉ vàng 24K, vàng 9 tuổi 8 và 5.060.000đ (vì bà L đã nhận 32.000.000đ – 26.940.000đ) = 5.060.000đ. Nay bà yêu cầu bà Tr trả lại cho bà 40 chỉ vàng 24K, vàng 9 tuổi 8 và 5.060.000đ.

Ngoài ra, bà L yêu cầu bà Tr trả tiền làm nền để đậu máy gặt lúa là 30.000.000đ, cặp phà lên xuống trị giá 3.000.000đ, tiền gặt lúa của ông U đã trảcho bà Tr là 4.000.000đ, tiền dầu 3.000.000đ và tiền bà L bỏ cọc máy là10.000.000đ. Tổng cộng là 50.000.000đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà V trình bày: Vào năm 2012 bà có vay vàng của bà Tr và bà L, còn vàng của ai thì bà không biết nhưng khi vay bà nhận vàng từ bà L nhưng viết biên nhận nợ bà Tr và việc vay tiền giữa bà với bà Tr đã được Tòa án nhân dân huyện T giải quyết xong. Nay bà không có ý kiến và yêu cầu gì trong vụ án này.- Tại Bản khai ngày 30/11/2016 anh Lê Huỳnh Nhật L1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Anh có nghe cha mẹ nói số đất trên cha mẹ đã mua lại của cậu H, việc mua bán thế nào anh không biết vì khi mua bán anh còn nhỏ, hiện nay anh không sử dụng đất và việc giải quyết vụ việc là do cha mẹ quyết định, anh không có ý kiến và yêu cầu gì.

- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Bùi Thị Tr đối với bà Bùi Thị L. Buộc bà Bùi Thị L có trách nhiệm trả lại cho bà Bùi Thị Tr số vàng muamáy gặt đập liên hợp còn thiếu 30 (Ba mươi) chỉ vàng 24K, vàng 9,8 tuổi và số tiền 26.940.000đ (Hai mươi sáu triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Đối với số vàng chưa thi hành theo mức lãi suất bình quân 03 Ngân hàng tại địa phương (nếu có) tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Không chấp nhận yêu cầu của bà L về việc đòi lại 40 chỉ vàng 24K, vàng 9,8 tuổi và 5.060.000đ (Năm triệu, không trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền phí luật sư, phí thi hành án; 3.000.000đ tiền dầu.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà L về việc trả 2.280.000đ tiền sắt làm nền; 2.000.000đ tiền mà bà Tr nhận của ông Ú chưa chia cho bà L trong số tiền 4.000.000đ mà U đã trả; 10.000.000đ tiền đặt cọc mua máy gặt đập liên hợp hiệu KUBOTA và 3.000.000đ tiền cặp cầu phà. Tổng cộng 17.280.000đ(Mười bảy triệu, hai trăm tám mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, lãi chậm trả theo quy định, thời hạn kháng cáo của các đương sự và quyền yêu cầu thi hành án.

- Sau khi án sơ thẩm tuyên bà Bùi Thị L kháng cáo 01 phần bản án sơ thẩm.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Bùi Thị Liên giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bà không thống nhất trả 30 chỉ vàng 24 kara cho bà Tr và buộc bà Tr phải trả cho bà 40 chỉ vàng 24kara và 5.060.000đồng.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho bà L trình bày: Vì bà Tr và bà L là chị em với nhau nên khi các bên giao dịch với nhau không có làm biên nhận. Bà Tr có nhiều lời khai mâu thuẩn với nhau và hồ sơ vụ án chưa làm rõ được số vàng mà bà Tr đã bán ra để lấy tiền khi 02 bên hùn mua máy với nhau tại huyện Tâ, nên đề nghị HĐXX làm rõ thêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh ý kiến về vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý xem xét giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giử y án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà L được thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bà Vvắng mặt lần 02 không có lý do nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của bà Bùi Thị L:

- Thứ nhất: Đối với số vàng 30 chỉ loại 24kara 9t8 mà bà Tr khởi kiện yêu cầu bà L trả. Xét thấy, bà Tr và bà L đều thống nhất là bà L có mua lại 01 máy cắt lúa gặt đập liên hợp hiệu KUBOTA của bà Tr với giá là 130 chỉ vàng 24kara. Sau khi mua thì bà L có trả được 64 chỉ, cộng với 36 chỉ mà 02 bên cùng làm ra trước đó thì tổng cộng được 100 chỉ, bà L còn thiếu lại 30 chỉ.

Bà L cho rằng bà không còn thiếu bà Tr nửa, vì bà đã bỏ ra 30 chỉ vàng hùn với bà Tr khi mua máy ban đầu tại công ty rồi. Tuy nhiên, bà L không có chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình và bà Tr không thừa nhận việc này. Theo hợp đồng mua bán và phiếu thu tiền tại Công Ty TNHH Minh Th (nơi mua máy cắt) thì chỉ có 01 mình bà Tr là người giao kết hợp đồng mua bán và trả tiền, không có bà L. Nên yêu cầu khởi kiện của bà Tr là có cơ sở để chấp nhận.

- Thứ hai: Đối với yêu cầu của bà L, yêu cầu bà Tr trả lại số vàng 40 chỉ 24kara và 5.060.000đồng.

Xét thấy tại quyết định số 61/2014/QĐST-DS ngày 09/6/2014 của Tòa án huyện Tâ về việc Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thì bà V và ông B(là bị đơn) chỉ có nghĩa vụ trả cho bà Tr 100 chỉ vàng 24kara, trong hồ sơ vụ án này không có liên quan đến bà L. Nay bà Tr không thừa nhận việc bà L có hùn 50 chỉ trong số vàng nay. Vì vậy, vụ việc này đã được giải quyết bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án rồi, nên yêu cầu của bà L không có cơ sở để chấp nhận.

Bà L thừa nhận là có nhận 10 chỉ vàng 24kara của bà Tr (Bà Tr là người được thi hành án) tại Chi cục THASD huyện Tam Nông, giá vàng tại thời điểm là 3.200.000đ (10 chỉ x 3.200.000đ = 32.000.000đ). Nay bà Tr yêu cầu bà L trả lại là có căn cứ chấp nhận, vì đây là tài sản của bà Tr, bà L chỉ nhận dùm. Sau khi trừ chi phí thi hành án và luật sự (5.060.000đ) thì còn lại 26.940.000đồng bà L phải trả cho bà Tr.

Vì vậy kháng cáo của bà Tr là không có cơ sở để chấp nhận từ những căn cứ trên.

 [3] Xét yêu cầu của người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn là không có cở sở để chấp nhận từ những căn cứ nêu trên.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có cơ sở để chấp nhận.

[5] Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

 [6] Về án phí phúc thẩm: Do bà L là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 91, Điều 148, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị L. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 25/2018/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Tr. Buộc bà Bùi Thị L phải trả cho bà Bùi Thị Tr 30 (ba mươi) chỉ vàng 24 kara 9,8 tuổi và số tiền là 26.940.000đ.

- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Bùi Thị L. Buộc bà Bùi Thị Tr trả cho bà Bùi Thị L số tiền là 17.280.000đ (Trong đó: 2.280.000đ tiền làm nền, 2.000.000đ tiền của ông U, 10.000.000đ tiền đặt cọc mua máy gặt đập liên hợp và 3.000.000đ tiền cặp cầu phà).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Bùi Thị L về việc yêu cầu bà Bùi Thị Tr trả 40 chỉ vàng 24 kara vàng 9,8 tuổi, 5.060.000đ tiền phí luật sư, phí thi hành án và 3.000.000đ tiền dầu.

2. Về án phí dân sự:

- Bà Bùi Thị L được miễn nộp tiền áp phí dân sự. Bà L được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 4.630.500đ theo biên lai thu số 09220 ngày 27/6/2017 và 300.000đ theo biên lai thu số 0000597 ngày 27/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

- Bà Bùi Thị Tr phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 864.000đ, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.340.000đ theo biên lai thu số 09338, ngày 15/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Bà Bùi Thị Tr được nhận số tiền còn lại là 2.476.000đ.

3. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 257/2018/DS-PT ngày 17/10/2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán và đòi lại tài sản

Số hiệu:257/2018/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/10/2018
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về