Bản án 260/2019/HSPT ngày 08/05/2019 về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 260/2019/HSPT NGÀY 08/05/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở  phiên  tòa  xét  xử  phúc  thẩm  công  khai  vụ  án  hình  sự  thụ  lý  số 728/2018/TLPT-HS ngày 24 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Trần Đức Ch phạm tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 302/2018/HS-ST ngày 21/08/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

* Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:

Họ và tên: Trần Đức Ch, sinh ngày 15/8/1976 tại Hà Nội; nơi ĐKHKTT: Số nhà 33 N03 Khu đô thị DV, phường DV, quận CG, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nguyên Trưởng ban Tài chính, Kế toán trưởng Viện Dầu khí Việt Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Tiến sỹ Kinh tế; tiền án, tiền sự: Không; con ông Trần Văn Th, sinh năm 1944 (đã chết năm 2002) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1945; vợ: Trương Thị Tố L, sinh năm 1981 và có hai con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2013); bắt tạm giam từ ngày 13/10/2016 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Danh Tín, bà Phạm Thị Hiền, luật sư Văn phòng Luật sư Danh Tín, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Bà Hiền có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) thành lập theo Quyết định số 339/QĐ- DK- VN ngày 29/01/2007 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), là đơn vị khoa học công nghệ tự trang trải kinh phí, do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đầu tư 100% vốn. Viện Dầu khí Việt Nam có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước và hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, được tổ chức và hoạt động theo Luật Khoa học công nghệ và các văn bản pháp lý liên quan khác (BL 1281). Trần Đức Ch được bổ nhiệm là Kế toán trưởng của Viện Dầu khí Việt Nam từ ngày 07/4/2009 đến ngày 28/10/2010 (BL 1495- 1499). Chức năng nhiệm vụ của Kế toán trưởng được quy định tại Điều 16 Điều lệ và Quy chế quản lý Tài chính của Viện Dầu khí Việt Nam theo Quyết định số 4433/QĐ-DKVN ngày 18/6/2009 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) là giúp Viện trưởng chỉ đạo thực hiện công tác tài chính kế toán, thống kê của Viện, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Kế toán trưởng chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán của Viện theo chế độ và các chuẩn mực kế toán hiện hành của Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm trước Viện trưởng và Luật kế toán về toàn bộ công tác kế toán của Viện (BL 1488-1494).

Căn cứ chỉ đạo của Đinh La Th - nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) tại Công văn số 3405/DKVN-HĐQT ngày 13/5/2009 về việc đề nghị các đơn vị trong Tập đoàn ủng hộ việc sử dụng các dịch vụ tài chính, ngân hàng và các dịch vụ thanh toán, tín dụng, ngoại hối... do Ngân  hàng  Ocean  Bank  cung  cấp;  công  văn  số  4566/DKVN-TVDK  ngày22/6/2009 của Phùng Đình Th - nguyên Tổng giám đốc PVN về việc yêu cầu các đơn vị thành viên mở và phát triển hệ thống tài khoản thanh toán tại Ocean Bank; ngày 26/6/2009, Trần Đức Ch - Trưởng ban Tài chính Kế toán ký Phiếu trình số 133/CVNB-TCKT về việc đề nghị mở tài khoản giao dịch tại Ocean Bank và được bà Phạm Thị Thanh T - Phó Viện trưởng phê duyệt đồng ý. Sau đó Viện Dầu khí đã ký các Hợp đồng tiền gửi theo lãi suất trần từng thời điềm tại các tổ chức tín dụng trong đó có Ocean Bank, người ký các Hợp đồng tiền gửi là lãnh đạo Viện dầu khí (ông Phan Ngọc Tr - Viện trưởng, bà Phạm Thị Thanh T) và Kế toán trưởng (Trần Đức Ch, Lê Văn Q) (BL1550-1779). Nguồn tiền gửi được lấy từ kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp để thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ của Nhà nước do các Cơ quan Nhà nước giao, đặt hàng trực tiếp hoặc qua đấu thầu; kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học do PVN cấp theo kế hoạch hàng năm hoặc đột xuất trên cơ sở hợp đồng kinh tế, hợpđồng thực hiện nhiệm  vụ khoa học và công nghệ.

Trong thời gian Trần Đức Ch làm kế toán trưởng từ tháng 4/2009 đến tháng 10/2010, Viện Dầu khí là khách hàng phát sinh tiền gửi tại Ocean Bank Chi nhánh Thăng Long với tổng doanh số tiền gửi có kỳ hạn là 308.000.000.000 đồng, tiền lãi thu được theo Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn là 2.275.753.032 đồng (đến   tháng  12/2010);   doanh  số  tiền  gửi   không   kỳ  hạn  năm  2010   là 92.986.782.996 đồng. Tiền lãi thu được theo hợp đồng là 188.246.300 đồng. Số tiền lãi Viện Dầu khí thu được theo các Hợp đồng tiền gửi được hạch toán vào doanh  thu  hoạt  động  tài  chính  theo  Quyết  định  số  15/2006/QĐ-BTC  ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp vàChuẩn mực Kế toán số 14 về doanh thu và thu nhập khác.

Từ  15/8/2009  đến  31/12/2010,  Ngân  hàng  Thương  mại  cổ  phần  Đại Dương (Ocean Bank) có chủ trương chi tiền chăm sóc khách hàng, triển khai trên toàn hệ thống theo thông báo ngày 11/8/2009 của Nguyễn Xuân S, Tổng Giám đốc và các Quyết định số 308/2009/QĐ-CT ngày 13/8/2009 của Hà Văn Th - Chủ tịch HĐQT; hướng dẫn số 955/2009/HD-TGĐ ngày 19/8/2009 của Tổng Giám đốc Ocean Bank và các Quyết định gia hạn chương trình năm 2010 của Hà Văn Th và Nguyễn Xuân S dưới hình thức chương trình “Mỗi tuần một khách hàng tiềm năng”. Nội dung chương trình là: Mỗi cán bộ nhân viên Ocean Bank khi giới thiệu được 01 khách hàng doanh nghiệp, cá nhân mở tài khoản thanh toán có số dư trung bình từ 10 triệu đồng trở lên duy trì trong thời hạn 01 tháng sẽ được chi lương bổ sung tương ứng (lương kinh doanh) là 0,2%/số dư tiền gửi bình quân trong tháng (trường hợp khách hàng có số dư bình quân tiền gửi thanh toán trên 25 tỷ thì các đơn vị trình Tổng giám đốc và HĐQT xem xét, phê duyệt mức thưởng riêng). Nguồn tiền chi chăm sóc khách hàng do Hội sở Ocean Bank chuyển về, dưới hình thức chi trả bổ sung lương cho các nhân viên Chi nhánh theo chương trình được chuyển về tài khoản từng cá nhân được hưởng theo thông báo. Sau khi trừ thuế thu nhập cá nhân, được nhập vào quỹ tại Chi nhánh và sử dụng để chi chăm sóc cho các khách hàng thường xuyên duy trì Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn; mức chi được tính làm tròn theo từng thời điểm phát sinh theo tỷ lệ 0,1% x số dư tiền gửi không kỳ hạn phát sinh trong kỳ (BL 526-570).

- Hành vi chiếm đoạt 97.000.000 đồng của bị cáo Trần Đức Ch: Thực hiện chủ trương chi tiền chăm sóc khách hàng triển khai trên toàn hệ thống t của lãnh đạo ngân hàng Ocean Bank nêu trên, từ ngày 31/8/2009 đến05/7/2010 Nguyễn Thị Minh Phương khi đó là Phó Giám đốc (sau này là Giám đốc Chi nhánh Thăng Long từ tháng 3/2010) đã chỉ đạo và đưa tiền cho 03 nhân viên Ocean Bank chi nhánh Thăng Long gồm: Bùi Thu H, Nguyễn Thị Minh H, Đoàn Thị Tr tổng số tiền 57 triệu đồng để chuyển các khoản tiền chăm sóc khách hàng Viện Dầu khí thông qua tài khoản số 35035012982400016 của Trần Đức Ch và Nguyễn Thị Minh Ph trực tiếp thực hiện chuyển khoản tổng số tiền 40 triệu đồng vào tài khoản số 35035012982400016 trên của Trần Đức Ch, cụ thể:

- Từ ngày 31/8/2009 đến ngày 07/10/2009 Bùi Thu H chuyển khoản hai lần tổng số tiền 14 triệu đồng;

- Từ ngày 04/11/2009 đến ngày 08/6/2010 Nguyễn Thị Minh H chuyển khoản 06 lần, tổng số tiền 40 triệu đồng;

- Ngày 05/7/2010, Đoàn Thị Tr chuyển khoản 01 lần, số tiền 03 triệu đồng;

- Từ ngày 05/8/2010 đến 31/12/2010, Nguyễn Thị Minh Ph chuyển khoản04 lần, tổng số tiền 40 triệu đồng (BL 151-172).

Các nhân viên Ocean Bank Chi nhánh Thăng Long gồm: Bùi Thu H, Nguyễn Thị Minh H, Đoàn Thị Tr đều khai là người viết các Giấy nộp tiền vào tài khoản Trần Đức Ch, các nhân viên này đều xác nhận mặc dù nội dung trên Giấy nộp tiền là “Trần Đức Ch nộp tiền vào tài khoản Trần Đức Ch”. Tuy nhiên, đây không phải là tiền của Trần Đức Ch nộp vào tài khoản của mình mà là tiền do Nguyễn Thị Minh Ph, Nguyễn Trà M - Phó giám đốc Ocean Bank Thăng Long đưa để nộp vào tài khoản của Trần Đức Ch (nộp tại quầy giao dịch Chi nhánh Thăng Long, tầng 1, số 18 Láng Hạ, Hà Nội. BL 236 - 259).

Nguyễn Trà M khai là người được Nguyễn Minh Phg nhờ chuyển 03 triệu đồng vào tài khoản Trần Đức Ch vào tháng 7/2010, sau đó Nguyễn Trà M đưa số tiền này cho Đoàn Thị Tr (nhân viên của My) mang đi nộp. Nguyễn Trà M có biết chương trình chi chăm sóc khách hàng năm 2009 đến 2010 và Viện Dầu khí là đơn vị được chi nhánh chi chăm sóc (BL259-261). Nguyễn Thị Minh Ph khai bản thân Ph trực tiếp chuyển vào tài khoản của Trần Đức Ch 40.000.000 đồng; chỉ đạo và đưa tiền chăm sóc khách hàng cho các nhân viên chuyển 57.000.000 đồng cho Viện Dầu khí thông qua đầu mối là Trần Đức Ch từ tháng 8/2009 đến tháng 7/2010, sau mỗi lần chuyển tiền Ph đều gọi điện thông báo nội dung cho Ch biết và Ch nói cảm ơn (BL 208-223).

Trần Đức Ch đã thừa nhận số tiền 97.000.000 đồng do các nhân viên Ocean Bank chi chăm sóc khách hàng cho Viện dầu khí đã được chuyển vào tài khoản của Trần Đức Ch. Mỗi lần các nhân viên hoặc Minh Ph chuyển tiền, Chính đều được Minh Ph thông báo và sau khi có tiền về tài khoản Ch đã rút ra sử dụng cá nhân (BL 137-204). Quá trình điều tra bị can Trần Đức Ch có đơn gửi Cơ quan điều tra xin khắc phục 97.000.000 đồng (BL 207). Ngày 23/5/2018, bà Trương Thị Tố L (vợ Trần Đức Ch) làm việc với Cơ quan điều tra trình bầy và tạm nộp 60.000.000 đồng, số còn lại 37.000.000 đồng gia đình bị cáo đã nộp trước khi xét xử vụ án vào ngày 20/8/2018 tại Biên lai thu tiền số 0706 ngày 20/8/2018 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 302/2018/HS-ST ngày 21/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Căn cứ Điều 45, 46, 260, 268, 269, 299, 326, 327 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015. Tuyên bố bị cáo Trần Đức Ch phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản ”. Áp dụng khoản 1 Điều 355, điểm b,v,s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đức Ch 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2016. Xác nhận bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để điều tra vụ án khác.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/8/2018, Trần Đức Ch kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 31/8/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Đức Ch.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; khai báo thành khẩn, thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung và nhận định của Bản án sơ thẩm, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: Bản án sơ thảm kết án bị cáo về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tàisản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 355, điểm b,v,s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy  nhiên, bị cáo còn có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự vì trong tổng số 13 lần nhận tiền mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng nhưng bản án sơ thẩm chưa áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, có thành tích trong công tác, được tặng thưởng chiến sỹ thi đua ngành, bố có công với cách mạng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu đã được bản án sơ thẩm áp dụng; tại phiên tòa không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Số tiền chiếm đoạt là 97.000.000 đồng thuộc khoản 1 Điều 355; Tòa án sơ thẩm tuyên 18 tháng tù là quá nhẹ, không phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo bị bắt 31/10/2016; đến khi xét xử là 22 tháng nhưng Tòa án tuyênxử 18 tháng tù là không phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tăng hình phạt đối với bị cáo lên mức 24 đến 30tháng tù.

- Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm:

Cáo trạng và bản án sơ thẩm đều nhận định bị cáo phạm tội: “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 355 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tách số tiền nhận từng lần để áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "phạm tội nhiều lần" là không khách quan, không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo. Trong vụ án này cần xem xét: Bị cáo không có quyền quyết định gửi tiền tại Ocean Bank mà thuộc quyền hạn của Chủ tịch Tập đoàn dầu khí; chính sách, chủ trương của Ocean Bank thực hiện trên toàn hệ thống, bị cáo cũng không biết mình sẽ được nhận quà, không ép buộc hay thỏa thuận về được nhận quà từ ngân hàng; sau khi phạm tội, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; tích cực khắc phục hậu quả và bản thân bị cáo có nhiều thành tích trong công tác là 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo Trần Đức Ch nhất trí với lời trình bày của người bào chữa và không tranh luận gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhân tội của bị cáo Trần Đức Ch tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm như: Lời khai của người trực tiếp chuyển tiền cho bị cáo gồm: Bùi Thu H, Nguyễn Thị Minh H, Đoàn Thị Tr, Nguyễn Thị Minh Ph; phù hợp với lời khai của người đại diện và tài liệu thu thập tại Ngân hàng thương mại TNHH một thành viên Đại Dương (Ocean Bank), tài liệu, chứng cứ khác thu thập tại Tập đoàn dầu khí (PVN), Viện

Dầu khí (VPI): Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Trong thời gian từ 31/8/2009 đến 31/12/2010 bị cáo Trần Đức Ch giữ chức vụ Trưởng ban Tài chính kiêm Kế toán trưởng Viện Dầu khí Việt Nam, được Lãnh đạo Viện Dầu khí Việt Nam giao nhiệm vụ ký các Hợp đồng tiền gửi tại Ocean Bank. Trong giai đoạn này, ngoài nhận tiền lãi từ số tiền gửi của Viện dầu khí gửi tại Ocean Bank và đã được hạch toán theo quy định của nhà nước, bị cáo Trần Đức Ch còn có 13 lần nhận tổng số tiền 97.000.000 đồng do Ocean Bank chi chăm sóc khách hàng. Sau khi nhận tiền, bị cáo không báo cáo với người có thẩm quyền, không nộp và hạch toán vào nguồn thu của Viện Dầu khí Việt Nam mà sử dụng cho mục đích cá nhân. Số tiền bị cáo chiếm đoạt dưới 100 triệu đồng, do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 355 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo, kháng nghị về hình phạt:

Trong vụ án này bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hợp tác tốt với cơ quan điều tra; bị cáo đã tác động đến gia đình nộp đủ số tiền 97.000.000 đồng đã chiếm đoạt, khắc phục triệt để hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra; bị cáo có nhiều thành tích đóng góp trong quá trình công tác, nhiều năm được tặng thưởng danh hiệu "Chiến sỹ thi đua cơ sở", "Chiến sỹ thi đua Ngành"; bố bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, mẹ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,v,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015: Phạm tội nhiều lần như phân tích của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhưng bản án sơ thẩm chưa áp dụng nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng bổ sung. Ngoài những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm về nhân thân của bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử còn xét thấy: Trong vụ án này tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo có phần hạn chế, thụ động do bị cáo không phải là người quyết định chủ trương gửi tiền của VPI vào Ocean Bank; việc bị cáo phạm tội cũng một phần do chính sách "chăm sóc khách hàng" của Ocean Bank, bị cáo không tạo sức ép, không vòi vĩnh để được nhận số tiền này.

[3] Với những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Mức hình phạt 18 tháng tù mà Bản án sơ thẩm đã quyết định là phù hợp và tương xứng, đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và người khác ý thức tuân thủ pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về việc tăng hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Hà Nội tham gia phiên tòa cho rằng hình phạt 18 tháng tù mà bản án sơ thẩm quyết định còn ít hơn thời hạn bị cáo đã bị tạm giam; đó cũng là một lý do để nâng mức hình phạt lên 24 - 30 tháng tù, Hội đồng xét xử xét thấy không phù hợp bởi lẽ bị cáo còn đang là bị can và đang bị tạm giam để truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án "Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản" xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (VinaShin).

[5] Về án phí phúc thẩm hình sự: Căn cứ quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo, do kháng cáo không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận nên bị cáo Trần Đức Ch phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức Ch về việc giảm nhẹ hình phạt; không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Đức Ch.

Giữ nguyên quyết định về hình phạt tại Bản án sơ thẩm số 302/2018/HS- ST ngày 21/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội như sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 355, điểm b,v,s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Đức Ch 18 (mười tám) tháng tù về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2016. Xác nhận bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Tiếp tục tạm giam bị cáo để điều tra vụ án khác.

2. Bị cáo Trần Đức Ch phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm hình sự.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.


116
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 260/2019/HSPT ngày 08/05/2019 về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

    Số hiệu:260/2019/HSPT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:08/05/2019
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về