Bản án 261/2017/HSPT ngày 28/09/2017 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 261/2017/HSPT NGÀY 28/09/2017 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI 

Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:269/2017/TLPT-HS ngày 01 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2017/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn Văn N, sinh năm 1978 tại Phú Yên; nơi cư trú: xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn A(đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ Lê Thị Kim T (đã chết) và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 01/02/2017; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N theo yêu cầu của Tòa án: Ông Nguyễn N, Luật sư Văn phòng Luật sư P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên; có mặt.

Người bị hại: Chị Lê Thị Kim T, sinh năm 1981; nơi cư trú: xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của người bị hại Lê Thị Kim T:

- Ông Lê Trọng H, sinh năm 1948; nơi cư trú: xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (là cha của người bị hại Lê Thị Kim T); có mặt.

- Cháu Nguyễn Thị Thu T sinh ngày 21/9/2000, Cháu Nguyễn Thị Thu T1 sinh ngày 01/01/2003, Cháu Nguyễn Chí T sinh ngày 29/10/2005; đều cư trú tại: xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (là các con của người bị hại); vắng mặt.

Người giám hộ cho các cháu Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Thị Thu T1, Nguyễn Chí T: Ông Lê Trọng H sinh năm 1948; nơi cư trú: xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (là ông ngoại các cháu).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng  09  giờ  30  phút  ngày 31/01/2017  (ngày  mùng  4  tết  Đinh  Dậu), Nguyễn Văn N đi chúc tết, uống bia, sau đó đi tìm vợ là Lê Thị Kim T nhưng không gặp. Khoảng 17 giờ cùng ngày, N về nhà thì gặp chị T, N hỏi chị T đi đâu không lo nấu nướng cúng kính ông bà, chăm sóc con cái, gia đình. Chị T trả lời đi chơi, bây giờ chuẩn bị đi tiếp, dẫn tới cãi nhau, chị T nói “Không phải thì tôi với ông li dị, tôi không cần ông nữa”. N xuống bếp lấy một dao “Thái Lan” cán nhựa màu vàng, thấy chị T ngồi trên xe mô tô nổ máy chuẩn bị đi, N đến dùng tay phải lấy chìa khóa xe và giằng co với chị T. N cầm dao tay trái đâm hai nhát trúng vào cẳng tay phải và vùng lưng trái của chị T làm gãy lưỡi dao. Chị T bỏ chạy sang nhà chị Võ Thị Kim K kêu cứu, chị K cùng chồng là anh Lê Minh N dìu chị T đặt nằm dưới hiên nhà. N vứt cán dao chạy lại ôm chị T, dùng tay rút lưỡi dao và dùng miệng hút máu trong miệng của chị T. Chị T được đưa đi cấp cứu nhưng đã chết.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 48/TT ngày 27/02/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Nguyên nhân chị Lê Thị Kim T chết là do “Mất máu cấp, rách thủng phổi và bó mạch dưới phổi”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2017/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2017, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 14 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2017.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và phổ biến về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/8/2017, đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị Kim T là ông Lê Trọng H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, ông Lê Trọng H giữ nguyên đơn kháng cáo;

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại và những người tham gia tố tụng khác chấp hành nghiêm túc giấy triệu tập của Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.

- Về nội dung: Trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo có một phần lỗi của người bị hại; Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng các quy định của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 14 năm tù là phù hợp, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 20 triệu đồng; tại phiên tòa, ông Lê Trọng H là người đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Tố tụng hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến cho rằng bị cáo phạm tội xuất phát từ sự xung đột giữa vợ chồng. Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện hợp pháp của người bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 246 của Bộ luật Tố tụng hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N đều thành khẩn khai nhận: Bị cáo Nguyễn Văn N kết hôn với chị Lê Thị Kim T từ năm 1998, chung sống hòa thuận, không có mâu thuẫn gì lớn. Do trong dịp Tết nguyên đán Đinh Dậu, chị T bỏ nhà đi chơi liên tục mấy ngày liền, N đi tìm nhưng không gặp. Khoảng 17 giờ ngày 31/01/2017 (mùng 4 Tết Đinh Dậu), N đi chúc tết (có uống bia, rượu) trở về nhà thì gặp chị T, N hỏi chị T đi đâu mà không lo nấu nướng cúng ông bà, chị T trả lời với giọng thách thức thì N xuống bếp lấy dao quay ra ngăn không cho chị T đi chơi tiếp. Khi hai người giằng co, N đã dùng dao đâm trúng cẳng tay phải và vùng lưng trái của chị T làm chị T tử vong. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và các chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử vụ án, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

[2] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ, hậu quả từ hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng của bị cáo; hoàn cảnh, nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo; xem xét đặc điểm nhân thân, thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo khó khăn, có 3 con còn nhỏ không có người chăm sóc nuôi dưỡng; đại diện hợp pháp của bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đã áp dụng điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 14 năm tù là phù hợp, đúng pháp luật; đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Trọng H tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt đã dùng dao đâm chết chị T nên bị cáo đã phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xem xét toàn bộ diễn biến vụ án thì nguyên nhân bị cáo dùng dao đâm chị T có phần do lỗi của chị T làm cho bị cáo bị kích động về mặt tinh thần; hoàn cảnh gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn; chị T chết và bị cáo đi chấp hành hình phạt để lại 3 con chưa thành niên không có người chăm sóc, nuôi dưỡng; tại phiên tòa, gia đình bị cáo xuất trình căn cứ đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 20 triệu đồng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên và của Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu tại phiên tòa, giảm một phần hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo sớm được trở về chăm sóc gia đình, nuôi dậy con cái và hòa nhập với xã hội.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo được chấp nhận nên người kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 248, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2017/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam  01 tháng 02 năm 2017.

2. Các quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


62
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 261/2017/HSPT ngày 28/09/2017 về tội giết người

Số hiệu:261/2017/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về