Bản án 261/2019/HS-PT ngày 16/05/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 261/2019/HS-PT NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 14 và ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 701/2018/TLPT-HS ngày 04 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Lê Thành Đ.

Do có kháng cáo của bị cáo Lê Thành Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 381/2018/HS-ST ngày 23 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

* Bị cáo có kháng cáo: Lê Thành Đ, giới tính: Nam, sinh năm: 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú số 43/21 T, Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê Văn T và bà Lê Thị Bạch K; có vợ: Nguyễn Thị Thu H; Con 01 người sinh năm 2018; Tiền án; tiền sự: Không. Bị tạm giam từ ngày: 03-11-2017 (có mặt).

Ngoài ra trong vụ án này còn có các bị cáo khác và các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập đến dự phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 01 giờ 20 phút, ngày 03-11-2017, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 phát hiện bắt quả tang Lê Thành Đ và Nguyễn Hương Q ngồi trong xe taxi Vinasun, biển số 51A-961.68 đang dừng tại ngã tư đường B – P, Phường 9, Quận 8 để chờ T2 (không rõ lai lịch) đến bán ma túy. Thu giữ trên ghế xe ôtô nơi Đ ngồi 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 99,5474g, loại Methamphetamine (viết tắt MA). Đây là số ma túy do bốn người là C, H1, Đ và Q hùn mua rồi bán kiếm lời chia nhau tiêu xài. Đ và Q đi bán ma túy cho T2 nhưng chưa kịp giao thì bị bắt, lúc này đối tượng mua ma túy bỏ chạy trốn thoát. Riêng T3 xế xe taxi không liên quan đến vụ án.

Lúc 04 giờ 30 phút, ngày 03-11-2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 8 khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Nguyệt H1 và Lê Hưng C tại số 160/6 N, Phường X, quận B, thu giữ 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 6,9901g loại MA cùng nhiều dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng, phân chia ma túy. Ngày 04-11-2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 8 bắt khẩn cấp H1 và C, sau đó vụ án chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC47) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử lý.

(Kết luận giám định số: 1727/KLGĐ-H ngày 20-11-2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh).

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thị Nguyệt H1, Lê Hưng C, Nguyễn Hương Q và Lê Thành Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

H1 và C có quan hệ tình cảm, sống với nhau tại nhà số 160/6 N, Phường X, quận B. Để có tiền và ma túy sử dụng cả hai đã hùn tiền mua bán ma túy từ tháng 4/2017. Nguồn ma túy H1 mua của T2 (không rõ lai lịch) tại khu vực Quận 8, mỗi lần C chở H1 đi mua 10g với giá từ dao động từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng. C hùn 1.300.000 đồng, số tiền còn lại thì H1 bỏ ra. Ma túy mua về H1 phân chia được 20 gói loại 300.000 đồng và 10 gói loại 200.000 đồng bán cho nhiều người nghiện, sau khi trừ số ma túy cả hai sử dụng thì thu lợi được 1.000.000 đồng. Trong số người nghiện có Lê Thành Đ mua 03 lần (khoảng 01g). Ngày 29- 10-2017, cả hai mua thêm 10g rồi H1 phân chia được 08 gói bán cho người nghiện và sử dụng một ít, số ma túy còn lại 6,9901g loại MA Công an thu giữ khi khám xét nơi ở. Ngày 02-11-2017, T2 không còn ma túy để bán nên T2 điện thoại nhờ C mua 100g MA có giá khoảng 43.500.000 đồng nhưng C từ chối vì không có tiền ứng trước. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày T2 điện thoại hỏi H1 xem việc T2 nhờ C mua giúp ma túy có chưa, nghe vậy H1 nói để hỏi C xong sẽ trả lời. Đến 20 giờ cùng ngày, Đ chở Q đến nhà H1 chơi, trong lúc nói chuyện H1 hỏi Đ và Q biết chỗ nào bán ma túy giá rẻ thì Đ chỉ Q, lúc này Q nói có quen người bán với số lượng lớn tại Quận 5 mà không phải trả tiền trước. Q điện thoại cho T3 (không rõ lai lịch) vào số di động 0906784177 và T3 đồng ý bán thiếu cho Q 100g MA với giá 42.000.000 đồng. Thấy vậy H1 điện thoại hỏi T2 về giá tiền và số lượng ma túy mà T2 muốn mua, T2 trả lời một lạng. Do C không ở nhà, H1 không biết giá tiền mà T2 đặt mua với C nên H1 điện thoại và C cho biết “43.500.000 đồng/01lạng”, nghe xong H1 nói “bên Đ có ma túy bán 42.000.000 đồng để H1 đi lấy về bán cho T2, tiền lời 1.500.000 đồng chia đôi cho vợ chồng Đ và vợ chồng mình”, C đồng ý. Tất cả thống nhất xong thì C về nhà nhưng không cùng đi bán ma túy.

Sau khi thỏa thuận địa điểm mua bán ma túy với T3 thì Đ, Q và H1 thuê xe taxi đến khu vực đường H, Phường X1, Quận Y. Khi đến nơi, Q xuống xe gặp người của T3 lấy ma túy. Do phải về trước, H1 cho số điện thoại 0934565561 của T2 và nói Đ với Q liên hệ T2 để bán ma túy. Tuy nhiên Đ và Q đi taxi đến ngã tư đường B – P, Phường 9, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã bị bắt quả tang như đã nêu trên. Đ và Q có tình cảm và quen nhau được hai tháng. Cả hai đều nghiện ma túy, Q mới biết H1 khi Đ đưa lại nhà H1 chơi vào ngày 02-11-2017 và đây là lần đầu Q với Đ mua bán ma túy với nhau.

Tại cáo trạng số 296/CT-VKS-P1 ngày 23/7/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo Lê Thành Đ, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 381/2018/HS-ST ngày 23-10-2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Thành Đ, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194 điểm p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

Xử phạt bị cáo Lê Thành Đ 12(mười hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03-11-2018.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác như Nguyễn Thị Nguyệt H1 15 năm tù, Lê Hưng C 15 năm tù. Nguyễn Hương Q 10 năm tù, nộp phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 24-10-2018, bị cáo Lê Thành Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do là mức án quá nặng so với so với hành vi của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Lê Thành Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Hoàn cảnh gia đình bị cáo quá khó khăn; cha mẹ già, con còn nhỏ; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, mới phạm tội lần đầu; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian tham gia quân đội cho xuất ngũ, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về nội dung: Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phân tích về tính chất mức độ hành vi phạm tội và xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phân tích về tính chất mức độ hành vi phạm tội và xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thành Đ, Vị kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thành Đ. Giữ nguyên quyết định bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo Lê Thành Đ có ý kiến, bị cáo đã thật thà khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo có một thời gian tham gia quân đội được cho xuất ngũ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo an tâm cải tạo tốt, sớm về sum họp với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ, Tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện Tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời trình bày của bị cáo Lê Thành Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thành Đ trong hạn luật định, và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lê Thành Đ thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung án sơ thẩm đã nêu, bị cáo Lê Thành Đ không kháng cáo về nội dung vụ án, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy lời khai của bị cáo Lê Thành Đ là phù hợp với lời khai của người làm chứng và các Tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Thành Đ có hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lê Thành Đ khai chính bị cáo đã mua bán ma túy và bị bắt quả tang vào ngày 03-11-2017, qua kết quả giám định có tổng khối lượng 99,5474 gam ma túy loại Methamphetamin. Do Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thành Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thành Đ là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến các chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng do ý thức xem thường pháp luật, vì động cơ kiếm tiền để hút ma túy nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, tạo ra sự bất bình trong dư luận xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình có xem xét bị cáo Lê Thành Đ có thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, xử phạt bị cáo Lê Thành Đ với mức án 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có phần nghiêm khắc. Bởi vì trong vụ án này, bị cáo Lê Thành Đ tham gia với vai trò giúp sức, bị cáo đi nhận và giao ma túy nhưng bị cáo không biết mặt người giao và người nhận, chỉ tham gia với các bị cáo khác nhưng không có bàn bạc với nhau. Bị cáo Lê Thành Đ bị truy tố xét xử ở điểm m khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có mức án từ 7 đến 15 năm, nhưng án sơ thẩm xử bị cáo 12 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc.

Bị cáo Lê Thành Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và có cung cấp bổ sung thêm chứng cứ mới như bản thân bị cáo Đ có một thời gian phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam, bị cáo có công với nước, con bị cáo còn nhỏ để xem xét đây cũng là tình tiết mới, cũng nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận, nghĩ nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Lê Thành Đ. Sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thành Đ, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Lê Thành Đ để bị cáo cải tạo tốt.

Về án phí: Do được chấp nhận kháng cáo, bị cáo Lê Thành Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của quyết định bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thành Đ.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 381/2018/HSST ngày 23-10-2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên bố bị cáo Lê Thành Đ, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy ”.

Áp dụng điểm m khoản 2, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009; điểm s, x khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Thành Đ 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02-7-2018.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Thành Đ 5.000.000đ.

Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Thành Đ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Lê Thành Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của quyết định bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


17
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 261/2019/HS-PT ngày 16/05/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

    Số hiệu:261/2019/HS-PT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:16/05/2019
    Là nguồn của án lệ
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về