Bản án 26/2018/DS-ST ngày 11/04/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BT

BẢN ÁN 26/2018/DS-ST NGÀY 11/04/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 11 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện BĐ xét xử sơ thẩm công khA vụ án thụ lý số: 19/2018/TLST – DS ngày 25 tháng 01 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2018/QĐXXST – DS ngày 30 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

-  Nguyên đơn

Bà Châu Thị A, sinh năm: 1958.

Địa chỉ: ấp BL, xã ĐHL, huyện BĐ, tỉnh BT .

-  Bị đơn: Bà Phan Thị K, sinh năm: 1965.

Địa chỉ: Khu phố 1, Thị Trấn BĐ, huyện BĐ, tỉnh BT.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 05/12/2018, trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án và trong quá trình xét xử Nguyên đơn là bà Châu Thị A trình bày:

Vào các năm 2015, 2016 và 2017 bà A có tham gia chơi hụi do bà K làm chủ hụi, bà A tham gia 03 dây hụi gồm:

Dây thứ nhất: Hụi 3.000.000 đồng, mở vào  ngày 15/10/2015 âm lịch, dây hụi gồm 33 phần, mỗi tháng khui 02 lần vào ngày 15 và 30 âm lịch hằng tháng, bà A tham 01 phần. Khi chơi không có làm giấy tờ, hai bên thỏa thuận bằng lời nói. Quá trình thực hiện hợp đồng bà A đóng cho bà K được 32 lần với số tiền 96.000.000 đồng.

Dây thứ hai: Hụi 3.000.000 đồng, mở vào  ngày 10/6/2016 âm lịch, dây hụi gồm 30 phần, mỗi tháng khui 02 lần vào ngày 10 và 25 âm lịch hằng tháng, bà A tham 01 phần. Khi chơi không có làm giấy tờ, hA bên thỏa thuận bằng lời nói. Quá trình thực hiện hợp đồng bà A đóng cho bà K được 16 lần với số tiền 38.700.000 đồng.

Dây thứ ba: Hụi 3.000.000 đồng, mở vào  ngày 15/01/2017 âm lịch, dây hụi gồm 30 phần, mỗi tháng khui 02 lần vào ngày 10 và 25 âm lịch hằng tháng, bà A tham 01 phần. Khi chơi không có làm giấy tờ, hA bên thỏa thuận bằng lời nói. Quá trình thực hiện hợp đồng bà A đóng cho bà K được 02 lần với số tiền 4.900.000 đồng.

Đến ngày 12/02/2017 thì bà K đơn phương chấm dứt tổ chức chơi hụi và nợ bà A 03 dây hụi với số tiền là 139.600.000 đồng. Tôi yêu cầu Tòa án buộc bà K có nghĩa vụ trả cho tôi 139.600.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Tổng cộng 03 dây hụi bà A đóng cho bà P là 139.600.000 đồng. Đến ngày 12/02/2017 âm lịch thì bà P tự ý đơn phương chấm dứt chơi hụi nhưng không trả cho bà A số tiền trên.

Nay bà A yêu cầu Tòa án buộc bà K có nghĩa vụ trả cho bà A 139.600.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án và trong quá trình xét xử Bị đơn là bà Phan Thị K trình bày:

Vào các năm 2015, 2016 và 2017 bà A có tham gia chơi hụi do bà K làm chủ hụi. Khi chơi hụi không có làm giấy tờ chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Đến ngày 12/02/2017 âm lịch thì bà K tự ý đơn phương chấm dứt chơi hụi. Dây hụi ngày 15/10/2015 âm lịch bà K nợ bà A 96.000.000 đồng, dây hụi 10/6/2016 âm lịch bà K nợ bà A 38.700.000 đồng, dây hụi ngày 15/01/2017 bà K nợ bà A 4.900.000 đồng. Tổng cộng 03 dây hụi bà P nợ bà A số tiền 139.600.000 đồng.

Nay bà A yêu cầu Tòa án buộc bà K có nghĩa vụ trả cho bà A 139.600.000 đồng bà K đồng ý trả nhưng xin trả dần hằng tháng 1.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ.

Tại phiên tòa các bên đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu nói trên.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 479 của Bộ luật dân sự năm 2005, Nghị định số 144/2006/NĐ–CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà A, buộc bà K, có nghĩa vụ trả cho bà A 139.600.000 đồng. Ghi nhận bà A không yêu cầu bà K trả lãi số tiền trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Theo bà Châu Thị A trình bày vào các năm 2015, 2016 và năm 2017 giữa bà Châu Thị A và bà Phan Thị K có thiết lập giao dịch dân sự về việc chơi hụi. Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Tranh chấp hụi” được quy định tại Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo xác nhận ngày 30/11/2017 của Công an thị trấn BĐ, huyện BĐ: Bà Phan Thị K có đăng ký thường trú tại Khu phố 1, thị trấn BĐ, huyện BĐ và hiện nay đang sinh sống tại địa phương. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện BĐ.

[3] Về thời hiệu khởi kiện:

Bà Châu Thị A khởi kiện yêu cầu yêu cầu bà Phan Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Châu Thị A 139.600.000 đồng. Bà Châu Thị A cho rằng bà tham gia chơi hụi vào các năm 2015, 2016 và năm 2017,  đến ngày 12/02/2017 âm lịch thì bà Phan Thị K tự ý đơn phương chấm dứt chơi hụi. Ngày 05/12/2017 bà Châu Thị A khởi kiện yêu cầu bà Phan Thị K có nghĩa vụ trả nợ là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bà A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà K có nghĩa vụ trả cho bà A 139.600.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Trong quá trình giải quyết vụ án bà K thừa nhận hiện nay còn nợ bà A 139.600.000 đồng tiền hụi nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà K đồng ý trả cho bà A 139.600.000 đồng nhưng xin trả dần hằng tháng 1.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ. Tại phiên tòa yêu cầu của bà K không được bà A chấp nhận, bà K không trả tiền cho bà A là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, xâm phạm đến quyền và lợi ích của bà A, bà K xin trả dần cho bà A là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[5] Lời phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án bà K có nghĩa vụ trả tiền cho bà  A 139.600.000 đồng là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà A. Buộc bà K có nghĩa vụ trả cho bà A 139.600.000 đồng.

Về lãi: Do bà A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Buộc bà K phải chịu: 139.600.000đ x 5% = 6.980.000 đồng.

Bà A không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền đã nộp là: 3.490.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 479 của Bộ luật dân sự năm 2005.

- Điều 357, 429 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Nghị định số: 144/2006/NĐ – CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

 Tuy ên x ử :

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị A đối với bà Phan Thị K về "Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Buộc bà Phan Thị K  (P) có nghĩa vụ  trả cho bà Châu Thị A số tiền nợ hụi là 139.600.000 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng).

Ghi nhận bà A không yêu cầu bà K trả lãi số tiền trên.

[2]. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực; Kể từ ngày bà Châu Thị A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phan Thị K không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Phan Thị K còn phải trả cho bà Châu Thị A khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Buộc bà Phan Thị K phải chịu: 6.980.000 đồng (Sáu triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

Bà Châu Thị A không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 3.490.000 đồng (Ba triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lA thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0006355 ngày 25/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BĐ.

[4]. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh BT giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2018/DS-ST ngày 11/04/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:26/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Đại - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 11/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về