Bản án 26/2018/DS-ST ngày 24/08/2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 26/2018/DS-ST NGÀY 24/08/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ GÓP HỤI

Ngày 24 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 312/2017/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị P, sinh năm 1976;

Địa chỉ cư trú: Ấp CX, xã HT, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

- Bị đơn: Chị Cao Thị Thu H, sinh năm 1987;

Địa chỉ cư trú: Ấp XS, xã HT, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Huỳnh A, sinh năm 1982;

Địa chỉ cư trú: Ấp XS, xã HT, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 8 năm 2017 và đơn bổ sung đơn khởi kiện ngày 09 tháng 11 năm 2017 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn - chị Phùng Thị P trình bày:

Chị Cao Thị Thu H có tham gia hợp đồng góp hụi 31 phần, gồm 15 dây hụi do chị Phùng Thị P làm chủ, hụi hưởng hoa hồng, danh sách hụi ghi tên “H A”. Cụ thể như sau:

+ Dây 1: Hụi 3.000.000 đồng/01 tháng, kỳ mở hụi ngày 10-3-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 10-10-2017 Âm lịch, gồm 20 phần, 20 thành viên, chị H tham gia 01 phần, số thứ tự 05 tính từ trên xuống, chị H góp 01 lần, số tiền 2.250.000 đồng, chị H trúng hụi ngày 10-4-2016 Âm lịch, kêu 850.000 đồng, trúng hụi 41.700.000 đồng, trừ 1.200.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 40.500.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 40.500.000 đồng cho chị H. Chị H góp 06 lần, số tiền 18.000.000 đồng, còn nợ lại 12 lần hụi chưa góp, số tiền 36.000.000 đồng.

+ Dây 2: Hụi 2.000.000 đồng/01 tháng, kỳ mở hụi ngày 15-10-2015 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 15-5-2017 Âm lịch, gồm 20 phần, 20 thành viên, chị H tham gia 01 phần, số thứ tự 07 tính từ trên xuống, chị H góp 04 lần, số tiền 6.050.000 đồng, chị H trúng hụi ngày 15-02-2016 Âm lịch, kêu 500.000 đồng, trúng hụi 30.500.000 đồng, trừ 800.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 29.700.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 29.700.000 đồng cho chị H. Chị H góp 08 lần, số tiền 16.000.000 đồng, còn nợ lại 07 lần hụi chưa góp, số tiền 14.000.000 đồng.

+ Dây 3: Hụi 1.000.000 đồng/01tháng, kỳ mở hụi ngày 06-9-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 06-5-2017 Âm lịch, gồm 21 phần, 20 thành viên, chị H tham gia 01 phần, số thứ tự 01 tính từ trên xuống, chị H trúng hụi ngày 06-9-2016 Âm lịch, kêu 350.000 đồng, trúng hụi 13.000.000 đồng, trừ 400.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 12.600.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 12.600.000 đồng cho chị H. Sau khi lĩnh tiền trúng hụi, chị H không góp tiền hụi, chị H còn nợ lại 20 lần hụi chưa góp, số tiền 20.000.000 đồng.

+ Dây 4: Hụi 2.000.000 đồng/01 tháng, kỳ mở hụi ngày 29-4-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 29-11-2017 Âm lịch, gồm 20 phần, 19 thành viên, chị H tham gia 01 phần, số thứ tự 15 tính từ trên xuống, chị H góp 02 lần, số tiền 2.860.000 đồng, trúng hụi ngày 29-6-2016 Âm lịch, kêu 620.000 đồng, trúng hụi 27.460.000 đồng, trừ 800.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 26.660.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 26.660.000 đồng cho chị H, chị H góp 03 lần, số tiền 6.000.000 đồng, chị H còn nợ lại 14 lần hụi chưa góp, số tiền 28.000.000 đồng.

+ Dây 5: Hụi 2.000.000 đồng/01 tháng, kỳ mở hụi ngày 29-4-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 29-11-2017 Âm lịch, gồm 20 phần, 18 thành viên, chị H tham gia 02 phần, số thứ tự 02, 08 tính từ trên xuống:

Phần 1: Chị H trúng hụi ngày 29-4-2016 Âm lịch, kêu 580.000 đồng, trúng hụi 26.980.000 đồng, trừ 800.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 26.180.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 26.180.000 đồng cho chị H, chị H góp 05 lần, số tiền 10.000.000 đồng, chị H còn nợ lại 14 lần hụi chưa góp, số tiền 28.000.000 đồng.

Phần 2: Chị H góp 06 lần, số tiền 8.720.000 đồng.

+ Dây 6: Hụi 500.000 đồng/ ½ tháng, mỗi tháng khui hụi ngày 10 và ngày 25 Âm lịch, kỳ mở hụi ngày 10-7-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 25-7- 2017 Âm lịch, gồm 25 phần, 22 thành viên, chị H tham gia 02 phần, số thứ tự 03, 04 tính từ trên xuống:

Phần 1: Chị H trúng hụi ngày 10-7-2016 Âm lịch, kêu 130.000 đồng, trúng hụi 8.880.000 đồng, trừ 200.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 8.680.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 8.680.000 đồng cho chị H, chị H góp 06 lần, số tiền 3.000.000 đồng, chị H còn nợ lại 18 lần hụi chưa góp, số tiền 9.000.000 đồng.

Phần 2: Chị H góp 02 lần hụi, số tiền 750.000 đồng, trúng hụi ngày 10-8-2016 Âm lịch, số tiền 9.360.000 đồng, trừ 200.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 9.160.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 9.160.000 đồng cho chị H, chị H góp 03 lần, số tiền 1.500.000 đồng, chị H còn nợ lại 18 lần hụi chưa góp, số tiền 9.000.000 đồng.

+ Dây 7: Hụi 500.000 đồng/ ½ tháng, mỗi tháng khui hụi ngày 10 và ngày 25 Âm lịch, kỳ mở hụi ngày 10-7-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 25-7-2017 Âm lịch, gồm 25 phần, 22 thành viên, chị H tham gia 02 phần, số thứ tự 03, 04 tính từ trên xuống:

Phần 1: Chị H trúng hụi ngày 10-7-2016 Âm lịch, kêu 130.000 đồng, trúng hụi 8.880.000 đồng, trừ 200.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 8.680.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 8.680.000 đồng cho chị H, chị H góp 06 lần, số tiền 3.000.000 đồng, chị H còn nợ lại 18 lần hụi chưa góp, số tiền 9.000.000 đồng.

Phần 2: Chị H góp 05 lần hụi, số tiền 1.840.000 đồng, trúng hụi ngày 25- 9-2016 Âm lịch, kêu 130.000 đồng, trúng hụi 9.530.000 đồng, trừ 200.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 9.330.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 9.330.000 đồng cho chị H, chị H góp 01 lần, số tiền 500.000 đồng, chị H còn nợ lại 18 lần hụi chưa góp, số tiền 9.000.000 đồng.

+ Dây 8: Hụi 500.000 đồng/ ½ tháng, mỗi tháng khui hụi ngày 10 và ngày 25 Âm lịch, kỳ mở hụi ngày 10-7-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 25-7-2017 Âm lịch, gồm 25 phần, 22 thành viên, chị H tham gia 02 phần, số thứ tự 03, 04 tính từ trên xuống:

Phần 1: Chị H trúng hụi ngày 10-7-2016 Âm lịch, kêu 170.000 đồng, trúng hụi 7.920.000 đồng, trừ 200.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 7.720.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 7.720.000 đồng cho chị H, chị H góp 06 lần, số tiền 3.000.000 đồng, chị H còn nợ lại 18 lần hụi chưa góp, số tiền 9.000.000 đồng.

Phần 2: Chị H góp 20 lần hụi, số tiền 8.450.000 đồng.

+ Dây 9: Hụi 200.000 đồng/ 07 ngày khui 01 lần vào ngày chủ nhật, kỳ mở hụi ngày 21-6-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 18-12-2016 Âm lịch, gồm 26 phần, 23 thành viên, chị H tham gia 01 phần, số thứ tự 06 tính từ trên xuống. Chị H góp 04 lần, số tiền 625.000 đồng. Chị H trúng hụi ngày 19-7-2016 Âm lịch, kêu 50.000 đồng, trúng hụi 4.250.000 đồng, trừ 80.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 4.170.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 4.170.000 đồng cho chị H, chị H góp 12 lần, số tiền 2.400.000 đồng, chị H còn nợ lại 08 lần hụi chưa góp, số tiền 1.600.000 đồng.

+ Dây 10: Hụi 200.000 đồng/ 07 ngày khui 01 lần vào ngày chủ nhật, kỳ mở hụi ngày 21-6-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 18-12-2016 Âm lịch, gồm 26 phần, 24 thành viên, chị H tham gia 02 phần, số thứ tự 03, 05 tính từ trên xuống.

Phần 1: Chị H trúng hụi ngày 21-6-2016 Âm lịch, kêu 40.000 (bốn mươi nghìn) đồng, trúng hụi 4.000.000 đồng, trừ 80.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 3.920.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 3.920.000 đồng cho chị H, chị H góp 17 lần, số tiền 3.400.000 đồng, chị H còn nợ lại 08 lần hụi chưa góp, số tiền 1.600.000 đồng.

Phần 2: Chị H góp 04 lần, số tiền 615.000 đồng. Chị H trúng hụi ngày 19- 7-2016 Âm lịch, kêu 50.000 đồng, trúng hụi 4.250.000 đồng, trừ 80.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 4.170.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 4.170.000 đồng cho chị H, chị H góp 12 lần, số tiền 2.400.000 đồng, chị H còn nợ lại 08 lần hụi chưa góp, số tiền 1.600.000 đồng.

+ Dây 11: Hụi 200.000 đồng/ 07 ngày khui 01 lần vào ngày chủ nhật, kỳ mở hụi ngày 21-6-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 18-12-2016 Âm lịch, gồm 26 phần, 24 thành viên, chị H tham gia 02 phần, số thứ tự 05, 06 tính từ trên xuống.

Phần 1: Chị H góp 03 lần, số tiền 565.000 đồng. Chị H trúng hụi ngày 21- 6-2016 Âm lịch, kêu 45.000 đồng, trúng hụi 4.010.000 đồng, trừ 80.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 3.930.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 3.930.000 đồng cho chị H, chị H góp 14 lần, số tiền 2.800.000 đồng, chị H còn nợ lại 08 lần hụi chưa góp, số tiền 1.600.000 đồng.

Phần 2: Chị H góp 04 lần, số tiền 620.000 đồng. Chị H trúng hụi ngày 19- 7-2016 Âm lịch, kêu 50.000 đồng, trúng hụi 4.250.000 đồng, trừ 80.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 4.170.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 4.170.000 đồng cho chị H, chị H góp 12 lần, số tiền 2.400.000 đồng, chị H còn nợ lại 08 lần hụi chưa góp, số tiền 1.600.000 đồng.

+ Dây 12: Hụi 200.000) đồng/ 07 ngày khui 01 lần vào ngày chủ nhật, kỳ mở hụi ngày 21-6-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 18-12-2016 Âm lịch, gồm 26 phần, 24 thành viên, chị H tham gia 02 phần, số thứ tự 06, 07 tính từ trên xuống.

Phần 1: Chị H góp 03 lần, số tiền 565.000 đồng. Chị H trúng hụi ngày 21- 6-2016 Âm lịch, kêu 45.000 đồng, trúng hụi 3.875.000 đồng, trừ 80.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 3.795.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 3.795.000 đồng cho chị H, chị H góp 14 lần, số tiền 2.800.000 đồng, chị H còn nợ lại 08 lần hụi chưa góp, số tiền 1.600.000 đồng.

Phần 2: Chị H góp 03 lần, số tiền 470.000 đồng. Chị H trúng hụi ngày 19- 7-2016 Âm lịch, kêu 40.000 đồng, trúng hụi 4.120.000 đồng, trừ 80.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 4.040.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 4.040.000 đồng cho chị H, chị H góp 14 lần, số tiền 2.800.000 đồng, chị H còn nợ lại 08 lần hụi chưa góp, số tiền 1.600.000 đồng.

+ Dây 13: Hụi 1.000.000 đồng/01 tháng, kỳ mở hụi ngày 25-01-2016 Âm lịch, kỳ mãn ngày 25-10-2016 Âm lịch, gồm 22 phần, 22 thành viên, chị H tham gia 01 phần, số thứ tự 14 tính từ trên xuống. Chị H trúng hụi ngày 25-10-2015 Âm lịch, kêu 350.000 đồng, trúng hụi 13.650.000 đồng, trừ 400.000 đồng tiền hoa hồng, thực lĩnh 13.250.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 13.250.000 đồng cho chị H, chị H góp 20 lần, số tiền 20.000.000 đồng, chị H còn nợ lại 01 lần hụi chưa góp, số tiền 1.000.000 đồng.

+ Dây 14: Hụi 100.000 đồng/01 ngày, kỳ mở hụi ngày 20-10-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 20-11-2016 Âm lịch, gồm 30 phần, 30 thành viên, (cùng ngày 20-10-2016 Âm lịch chị P mở 10 dây hụi) chị H tham gia mỗi dây 01 phần, tổng cộng là 10 phần. Chị H trúng hụi ngày 20-10-2016 Âm lịch, kêu 10.000 đồng, trúng hụi 10 phần 26.110.000 đồng, trừ 500.000 đồng tiền hoa hồng của 10 phần, thực lĩnh 25.600.000 đồng, chị P đã giao đủ số tiền 25.600.000 đồng cho chị H, chị H góp 04 ngày, số tiền 4.000.000 đồng, chị H còn nợ lại 25 ngày hụi chưa góp, số tiền 25.000.000 đồng.

+ Dây 15: Hụi 2.000.000 đồng/01 tháng, kỳ mở hụi ngày 06-9-2016 Âm lịch, kỳ mãn hụi ngày 06-5-2018 Âm lịch, gồm 21 phần, 20 thành viên, chị H tham gia 01 phần, số thứ tự 01 tính từ trên xuống, chị H góp 02 lần số tiền 2.810.000 đồng.

Chị H nợ chị P 208.200.000 đồng tiền hụi chết chưa góp, chị P nợ chị H 19.980.000 đồng tiền hụi chưa lĩnh.

Ngày 25-10-2016 Âm lịch, chị H cho là không có tiền góp hụi cho chị P. Chị H và chị P thỏa thuận: Chị H nợ chị P 207.000.000 đồng tiền hụi chưa góp tính theo hụi chết trừ số tiền chị P nợ chị H 19.980.000 đồng tiền hụi chị H chưa lĩnh tiền trúng hụi tính theo hụi sống. Chị H còn nợ chị P 187.020.000 đồng. Cùng ngày 25-10-2016 Âm lịch, chị P viết chị H ký tên và ghi họ tên vào “Giấy xác nhận tiền hụi H còn thiếu của chị P chưa đóng”, chị H thừa nhận có nợ chị P 248.000.000 đồng tiền hụi chưa góp.

Chị P đã góp đủ tiền hụi chết thay cho chị H đến ngày mãn hụi.

Khi lĩnh tiền trúng hụi các dây hụi nêu trên, chị H có nói với chị P là để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Chồng chị Cao Thị Thu H tên Hồ Huỳnh A. Sinh năm 1982, vào thời điểm chị H tham gia hợp đồng góp hụi các dây hụi nêu trên thì chị H và anh A sống chung nhà, sinh hoạt kinh tế gia đình chung với nhau, chị H làm nghề may gia công và trồng mấm rơm, anh A làm phụ hồ.

Chị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc chị H và anh A có nghĩa vụ trả cho chị P số tiền 187.000.000 đồng. Trước và tại phiên tòa Chị P yêu cầu chị H và anh A trả 155.000.000 đồng tiền hụi chưa góp và trả tiền lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 24-01-2017 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Trong các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - chị Cao Thị Thu H trình bày:

Từ ngày 15-10-2015 Âm lịch đến ngày 26-9-2016 Âm lịch, chị H có tham gia hợp đồng góp hụi do chị P làm chủ hụi gồm: 01dây hụi tháng 3.000.000 đồng đã lĩnh tiền trúng hụi, 01 dây hụi tháng 2.000.000 đồng đã lĩnh tiền trúng hụi, 03 dây hụi tháng 2.000.000 đồng và 02 dây hụi tháng 1.000.000 đồng chưa lĩnh tiền trúng hụi.

Ngoài ra, chị H còn tham gia một số dây hụi ngày, hụi tuần do chị P làm chủ hụi, chị H không nhớ cụ thể các dây hụi này gồm bao nhiêu phần, bao nhiêu thành viên, kỳ mở hụi và kỳ mãn hụi.

Ngày 25-10-2016 Âm lịch, chị H và chị P có viết giấy xác nhận nợ hụi: Chị H nợ chị P 248.000.000 đồng tiền hụi chưa góp. Sau khi viết giấy xác nhận nợ hụi, chị H vẫn góp đủ tiền hụi chết cho chị P đến khoảng tháng 6 năm 2017 chị H ngưng góp tiền hụi chết.

Chị H đã trả cho chị P nhiều lần số tiền 28.000.000 đồng không nhớ trả mấy lần, mỗi lần bao nhiêu tiền và chị H có thỏa thuận với chị P khấu trừ các dây hụi sống chị H là thành viên, chị P là chủ hụi gồm: 03 dây hụi 2.000.000 đồng (12.000.000 đồng x 03 kỳ = 36.000.000 đồng), 02 dây hụi 1.000.000 đồng (1.000.000 đồng x 08 kỳ x 02 dây = 16.000.000 đồng, 01 dây hụi 500.000 đồng (500.000 đồng x 26 kỳ = 13.000.000 đồng), tổng số tiền chị H đã trả và khấu trừ cho chị P là 93.000.000 đồng, còn nợ lại 155.000.000 đồng.

Chị H đồng ý trả cho chị P 155.000.000 đồng tiền hụi chưa góp, không trả tiền lãi, chị H không yêu cầu anh A có nghĩa vụ trả tiền cho chị P.

Từ khi thụ lý, Tòa án tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án, gửi giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Huỳnh A không tham gia tố tụng.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của về việc xét xử sơ thẩm.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng:

Chị Phùng Thị P thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Chị Cao Thị Thu H không tham gia phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Anh Hồ Huỳnh A không tham gia lấy lời khai và không tham gia phiên hơp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình, Nghị định số 144/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 xem xét quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị P đối với chị Cao Thị Thu H, anh Hồ Huỳnh A. Chị Cao Thị Thu H, anh Hồ Huỳnh A có trách nhiệm liên đới trả cho chị Phùng Thị P số tiền hụi chết chưa góp là 155.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Cao Thị Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Huỳnh A vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh A.

[2] Về nội dung: Chị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc chị H và anh A có nghĩa vụ trả cho chị P số tiền 187.000.000 đồng. Trước và tại phiên tòa Chị P yêu cầu chị H và anh A trả 155.000.000 đồng tiền hụi chưa góp và trả tiền lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 24-01-2017 đến ngày xét xử sơ thẩm. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của chị P không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của chị P theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Xét yêu cầu của chị P đòi chị H và anh A 155.000.000 đồng tiền hụi chưa góp. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị H thừa nhận có nợ chị P 155.000.000 đồng tiền hụi chưa góp. Chị H đồng ý trả cho chị P 155.000.000 đồng, không trả tiền lãi.

[3] Chị P có chứng cứ là “Giấy xác nhận tiền hụi H còn thiếu của chị P chưa đóng” lập Ngày 25-10-2016 Âm lịch, “Danh sách hụi” và “Giấy giao tiền trúng hụi” của các dây hụi chứng minh cho việc chị H có tham gia hợp đồng góp hụi do chị P làm chủ, đã lĩnh tiền trúng hụi và không góp đủ tiền hụi cho chị P, chị H còn nợ chị P 155.000.000 đồng, chị H đồng ý trả cho chị P số tiền 155.000.000 đồng.

Xét việc chị P yêu cầu chị H trả tiền lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 24-01-2017 đến ngày xét xử sơ thẩm thấy rằng:

Tại Điều 30 chương 4 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định: “Trong trường hợp thành viên không góp phần họ khi đến kỳ mở họ thì thành viên đó phải thanh toán đủ phần họ còn thiếu tương ứng với thời gian chưa thanh toán cho đến thời điểm kết thúc họ và bồi thường thiệt hại nếu có.

Trong trường hợp thành viên không góp phần họ, chủ họ đã góp phần họ thay cho thành viên đó thì thành viên phải trả cho chủ họ các phần họ chậm trả và khoản lãi đối với các phần họ chậm trả. Mức lãi do các bên thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm trả các phần họ”. Chị P đã góp đủ tiền hụi chết thay cho chị H. Vì vậy, chị P yêu cầu chị H có nghĩa vụ trả cho chị P 155.000.000 đồng tiền hụi tính theo hụi chết là có căn cứ để xem xét chấp nhận. Buộc chị H trả tiền lãi cho chị P. Tiền lãi được tính theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố từ ngày 24-01-2017 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Tại Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010:

Từ ngày 24-01-2017 đến ngày 24-02-2017 là 01 tháng.

38.200.000 đồng x 9%/ năm x 01 tháng = 286.500 đồng.

Từ ngày 24-02-2017 đến ngày 24-3-2017 là 01 tháng.

(38.200.000 đồng + 16.600.000 đồng) - 1.000.000 tiền hụi sống x 9%/ năm x 01 tháng = 403.500 đồng.

Từ ngày 24-3-2017 đến ngày 24-4-2017 là 01 tháng.

(53.800.000 đồng + 16.600.000 đồng) - 1.000.000 tiền hụi sống x 9%/ năm x 01 tháng = 520.500 đồng.

Từ ngày 24-4-2017 đến ngày 24-5-2017 là 01 tháng.

(69.400.000 đồng + 16.600.000 đồng) - 1.000.000 tiền hụi sống x 9%/ năm x 01 tháng = 637.500 đồng.

Từ ngày 24-5-2017 đến ngày 24-6-2017 là 01 tháng.

(85.000.000 đồng + 16.600.000 đồng) - 1.000.000 tiền hụi sống x 9%/ năm x 01 tháng = 754.500 đồng.

Từ ngày 24-6-2017 đến ngày 24-7-2017 là 01 tháng.

(100.600.000 đồng + 16.600.000 đồng) - 1.000.000 tiền hụi sống x 9%/ năm x 01 tháng = 871.500 đồng.

Từ ngày 24-7-2017 đến ngày 24-8-2017 là 01 tháng.

(116.200.000 đồng + 16.600.000 đồng) - 1.000.000 tiền hụi sống x 9%/ năm x 01 tháng = 988.500 đồng.

Từ ngày 24-8-2017 đến ngày 24-9-2017 là 01 tháng.

(131.800.000 đồng + 12.000.000 đồng) - 1.000.000 tiền hụi sống x 9%/ năm x 01 tháng = 1.071.000 đồng.

Từ ngày 24-9-2017 đến ngày 24-10-2017 là 01 tháng.

(142.800.000 đồng + 7.000.000 đồng) - 1.000.000 tiền hụi sống x 9%/ năm x 01 tháng = 1.116.000 đồng.

Từ ngày 24-10-2017 đến ngày 24-8-2018 là 10 tháng. (155.000.000 đồng x 9%/ năm x 10 tháng = 11.625 000 đồng. Tổng số tiền chị H và anh A phải trả cho chị P là:

155.000.000 đồng + 286.500 đồng + 403.500 đồng + 520.500 đồng + 637.500 đồng + 754.500 đồng + 871.500 đồng + 988.500 đồng + 1.071.000 đồng + 1.116.000 đồng + 11.625 000 đồng = 173.274.500 đồng.

[4] Xét việc chị P yêu cầu chị H và anh A trả tiền cho chị P thấy rằng: Tuy anh A không tham gia hợp đồng góp hụi do chị P làm chủ nhưng chị H và anh A là vợ chồng. Thời điểm chị H tham gia hợp đồng góp hụi do chị P làm chủ, chị H và anh A sống chung nhà và sử dụng tiền trúng hụi vào việc trồng nấm rơm. Đây là giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do đó, yêu cầu của chị P buộc anh A cùng trả nợ với chị H là phù hợp với Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị P. Buộc chị H và anh A có nghĩa vụ trả cho chị P số tiền 173.274.500 đồng.

[6] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị P đối với chị Cao Thị Thu H, anh Hồ Huỳnh A. Chị Cao Thị Thu H, anh Hồ Huỳnh A có trách nhiệm liên đới trả cho chị Phùng Thị P số tiền hụi chết chưa góp là 155.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị này phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi giữa chị Phùng Thị P đối với chị Cao Thị Thu H và anh Hồ Huỳnh A.

2. Buộc chị Cao Thị Thu H và anh Hồ Huỳnh A có nghĩa vụ trả cho chị Phùng Thị P số tiền 173.274.500 (một trăm bảy mươi ba triệu hai trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm) đồng.

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Cao Thị Thu H và anh Hồ Huỳnh A phải chịu 8.663.725 (tám triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm hai mươi lăm) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Chị Phùng Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho chị Phùng Thị P 4..675.000 (bốn triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0009582 ngày 25 tháng 12 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú.


48
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về