Bản án 26/2018/DS-ST ngày 28/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 26/2018/DS-ST NGÀY 28/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 28 tháng 11năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2018/TLST-DS ngày 11/9/2018 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXX-ST ngày 19/10/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Địa chỉ: 130 P, phường 3, quận P, Thành phố H

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T – Tổng Giám đốc (Quyết định ủy quyền số 122/QĐ - DAB - HĐQT ngày 27/4/2016)

Người đại diện theo ủy quyền thứ 2: Ông Trần Văn G – Giám đốc Chi nhánh Thái Bình – phòng giao dịch Đ.

(Quyết định ủy quyền số 636/QĐ - DAB - PC ngày 22/5/2018)

Người đại diện được ủy quyền lại: Bà Vũ Thị Y.

Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh Thái Bình, Phòng giao dịch Đ.

(Quyết định ủy quyền số 08/QĐ - DAB – DHG1 ngày 05/9/2018).

- Bị đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị N, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T.

(Tại phiên tòa vắng mặt bà Y, bà P, bà N ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện nguyên đơn trình bày: Theo giấy đề nghị vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ của bà Trần Thị P, ngày 18/8/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, chi nhánh Thái Bình, Phòng giao dịch Đ đã duyệt cho bà Trần Thị P vay số tiền 20.000.000đồng, lãi suất 9%/năm, thời hạn vay 12 tháng, chia làm 12 kỳ, mỗi kỳ là 1 tháng kể từ ngày 18/8/2016 đến ngày 18/8/2017, mục đích vay kinh doanh, hình thức thanh toán: trả cả gốc và lãi hàng tháng theo quy định của Ngân hàng Đ (theo bảng dự tính thu RULE 78); hình thức bảo đảm khoản vay: tín chấp thông qua xác nhận của Chủ tịch Hội phụ nữ và Chủ tịch UBND xã Đ. Ngày 18/8/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã thực hiện cho bà P nhận nợ theo hình thức báo có vào tài khoản số 034163001449 của bà Trần Thị P mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 20.000.000đồng. Quá trình vay, từ ngày 18/8/2016 đến ngày 29/3/2017, bà Trần Thị P đã trả được tổng số tiền gồm: Gốc: 9.604.617đồng; lãi trong hạn: 1.315.383đồng. Do bà Trần Thị P vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 30/3/2017, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 20/8/2018, bà P còn nợ ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền gốc là: 10.395.383đồng; lãi trong hạn: 484.617đồng; lãi quá hạn: 2.557.075đồng.

Do sơ xuất nên Ngân hàng đã không kiểm tra kỹ hồ sơ, không kiểm tra giấy tờ tùy thân của người bảo lãnh và cũng không trực tiếp nhìn người bảo lãnh ký vào hồ sơ. Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc bà Trần Thị P phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 20/8/2018 là 13.437.075 đồng, lãi phát sinh từ ngày 21/8/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm (28/11/2018) là 382.030 đồng.

Không yêu cầu người bảo lãnh là bà Trần Thị N phải trả nợ cho Ngân hàng. Bà Trần Thị P là bị đơn đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Ngày 27/9/2018 Ủy ban nhân dân xã Đ đã cử cán bộ của địa phường đi cùng Thẩm phán và thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng đến nhà bà Trần Thị P để ghi lời khai của bà P và tống đạt các văn bản của Tòa án. Bà Trần Thị P từ chối viết bản tự khai và đề nghị Tòa án lấy lời khai của bà nhưng sau đó bà không đồng ý cho ghi lời khai của bà, vì vậy Tòa án không lấy được lời khai của bà P. Tòa án đã thông qua nội dung của thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận không khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, bà P đã biết được nội dung các tài liệu nhưng bà không ký các biên bản và không nhận văn bản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị N đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập nhưng sau khi bà N biết được nội dung các tài liệu bà N không nhận các văn bản vì cho rằng bà không ký tên vào phần người bảo lãnh. Trong các ngày 27/9/2018 và ngày 01/10/2018, Ủy ban nhân dân xã Đ đã cử cán bộ của địa phương đi cùng Thẩm phán và thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng nhiều lần đến nhà bà N để ghi lời khai của bà N và tống đạt các văn bản của Tòa án nhưng bà N không có ở nhà, vì vậy Tòa án không ghi được lời khai của bà N.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng với quy định của pháp luật còn đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành chưa đầy đủ quy định của pháp luật.

Về nội dung: Có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, sau khi đương sự trình bày ý kiến, Tòa án xét thấy:

[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị P và bà Trần Thị N đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh T, căn cứ vào Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Trần Thị P và bà Trần Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, bà P, bà N.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quá trình giải quyết vụ án bà P không viết bản tự khai và cũng không cho Tòa án ghi lời khai. Tuy nhiên bà P đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, đã nhận được, biết được nội dung thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà P không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, Tòa án đã 2 lần tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà P đều vắng mặt. Tại biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ thì bà Trần Thị P - sinh năm 1963, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T. Bà Trần Thị P khi vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ thì vay theo tổ vay vốn của thôn T, xã Đ, vì vậy trong giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ có ghi địa chỉ của Bà Trần Thị P ở thôn T, xã Đ, nhưng thực tế bà Trần Thị P ở thôn X, xã Đ. Bà P có ký vào phần người vay trong giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 08/8/2016 để vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ. Như vậy, xác nhận có việc bà P vay của Ngân hàng TMCP Đ số tiền 20.000.000đồng. Về lãi suất cho vay là 9%/năm, lãi quá hạn là 1,5 lần mức lãi trong hạn tức là 13,5% phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.2] Về chữ ký N – Trần Thị N trong mục người bảo lãnh trong Giấy đề nghị vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 08/8/2016, tại biên bản giao thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập thì bà N sau khi biết được toàn bộ nội dung các tài liệu nhưng bà không nhận văn bản vì cho rằng bà không ký vào phần người bảo lãnh. Đại diện Ngân hàng cũng không đề nghị giám định chữ ký, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đề nghị Tòa án chỉ buộc người vay có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng không yêu cầu người bảo lãnh phải trả nợ cho Ngân hàng.

[2.3] Theo quy định tại Phần IV “Phần cam kết của người bảo lãnh” trong Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 08/8/2016 thì trong trường hợp bà Trần Thị P không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hàng kỳ cho Đ Bank, bà N sẽ trả nợ thay cho người vay cho đến khi hết nợ vay tại Đ Bank”. Tuy nhiên, do hồ sơ tín dụng lập chưa được chặt chẽ và Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không yêu cầu người bảo lãnh phải trả nợ tiền cho Ngân hàng. Vì vậy chỉ buộc bà P có trách nhiệm trả nợ cho Đ Bank không buộc bà N phải trả cho Đ Banhk.

[3] Về án phí: Bà P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí.

[4] Về quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, bà P, bà N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 122; Điều 471; Điều 474 Bộ luật dân sự 2005. Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụngNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Trần Thị P trả nợ.

Buộc bà Trần Thị P, sinh năm 1963, trú tại thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (trả tại chi nhánh huyện Đ, tỉnh T) số tiền 13.819.105 đồng trong đó tiền gốc là: 10.395.383 đồng; tiền lãi tính đến hết ngày 28/11/2018 là 3.423.722 đồng gồm lãi trong hạn: 484.617 đồng; lãi quá hạn:

2.939.105 đồng .

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

3. Về án phí: Bà Trần Thị P phải chịu 690.955đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ 350.000đồng tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0007755 ngày 11/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt bà Y, bà P, bà N báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2018/DS-ST ngày 28/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:26/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hưng - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về