Bản án 26/2018/HS-ST ngày 30/03/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 26/2018/HS-ST NGÀY 30/03/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 30/3/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2018/TLST- HS ngày 13 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2018/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 3 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: B), sinh năm 1993; Nơi cư trú: khu 2, ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Châu ro; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị P, sinh năm 1971; sống chung như vợ chồng với chị Thái Thị Lệ H và có 01 con chung, sinh năm 2017.

Tiền án: Không có. Tiền sự: Không có.

Bị bắt, tạm giam ngày 03/01/2018. (Có mặt).

- Người bị hại: Anh Đỗ Văn M, sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Khu 2, ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ tạm trú: Khu Châu Ro, ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2000; Nơi cư trú: ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

Người đại diện theo pháp luật của anh T: Bà Nguyễn Thị Gái T. Nơi cư trú: ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

3. Anh Mai Hiếu N, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Khu 2, ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ tạm trú: Khu Châu Ro, ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

Người đại diện theo pháp luật của anh N: Anh Mai Văn Q; Nơi cư trú: Khu 2, ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ tạm trú: Khu Châu Ro, ấp T, xã SS, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 09/8/2017, tại nhà của anh Nguyễn Văn H thuộc ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai, anh H cùng Nguyễn Văn T (anh ruột H), Đỗ Văn M, Mai Hiếu N, Nguyễn Văn T và hai người bạn của T tên L và T (không rõ lai lịch nhân thân) cùng ngồi nhậu với nhau. Trong lúc ngồi nhậu, do T nghi ngờ L nói việc T bắt trộm ngỗng của bố, mẹ vợ để nhậu nên T đã dùng tay đánh L nhưng được mọi người can ngăn. Do tức giận nên T đã đập bể điện thoại của mình thì anh M có nói “anh đập điện thoại để dằn mặt hả” nên giữa anh M và T xảy ra cãi nhau, định đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T đứng dậy nói đi về nhưng đi xuống bếp nhà anh H lấy 01 con dao dài khoảng 45cm, lưỡi dao bằng thép màu đen dài khoảng 30cm (mũi dao cong hình lưỡi liềm), bản rộng 03cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 15cm. T cầm dao đi lên phòng khách (nơi mọi người đang ngồi nhậu), đứng sau lưng anh M, T cầm dao tay trái chém 01 nhát trúng vào phía sau vai trái của anh M. Bị chém, anh M đứng dậy thì bị T chém tiếp 01 nhát trúng vào hông bên phải làm anh M bị thương, sau đó anh M được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Thống Nhất, còn T cầm dao bỏ đi về nhà. Sau khi cầm dao chém gây thương tích cho anh M, T bỏ trốn đến ngày 03/01/2018 ra đầu thú tại Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Hậu quả: Anh Đỗ Văn M (sinh năm 1993, trú tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai) bị thương được đưa đi điều trị tại bệnh viện đa khoa Thống Nhất đến ngày 15/8/2017 thì xuất viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 0834/GĐPY/2017 ngày 15/11/2017 của Trung tâm pháp y - Sở Y Tế Đồng Nai xác định thương tích của anh Minh như sau:

Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tổn thương tràn dịch màng phổi phải (Áp dụng Chương 4, điều III, mục 4). Tỷ lệ 25%.

- Vết thương gây rách nhu mô gan phải khâu gan (Áp dụng Chương 5, điều VII, mục 2.1). Tỷ lệ 31%.

- Vết thương làm rách cơ hoành phải phẫu thuật khâu cơ hoành (Áp dụng Chương 4, điều V, mục 1) Tỷ lệ 21%.

- Vết thương làm gãy xương sườn XI bên phải (Áp dung Chương 4, điều II, mục 1) Tỷ lệ: 03%.

- Vết thương và vết mổ vùng lưng phải để lại sẹo kích thước 13 x 01cm, vết thương bả vai trái để lại sẹo kích thước 07 x 01cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 2). Tỷ lệ: 03%.

Xác định tỷ lệ thương tật toàn bộ là 62% tạm thời Sau khi sự việc xảy ra gia đình anh Đỗ Văn M đã làm đơn tố cáo đến cơ quan công an. Ngày 29/11/2018, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, Lệnh bắt tạm giam đối với Nguyễn Văn T về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Quá trình điều tra, Thời đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Về dân sự:

Gia đình bị cáo Nguyễn Văn T đã bồi thường chi phí điều trị vết thương và các khoản chi phí khác với tổng số tiền là 15.000.000 đồng cho anh Đỗ Văn M, anh M đã nhận tiền và làm đơn bãi nại không thắc mắc khiếu nại gì đối với vụ việc trên.

Vật chứng vụ án:

Nguyễn Văn T khai nhận, sau khi dùng dao gây thương tích cho anh Đỗ Văn M, trong lúc bỏ trốn đã ném con dao đi đâu không rõ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không thu hồi được.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT/VKS-HS ngày 13/3/2018, VKSND huyện Trảng Bom truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Trảng Bom để xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104  Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên bị cáo được áp dụng nguyên tắc có lợi được quy định tại Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7 và khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho anh Đỗ Văn M và anh M đã làm đơn bãi nại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ Luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 05 (Năm) năm đến 06 (Sáu) năm tù.

- Về dân sự: Đã giải quyết xong không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử; Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố; Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ ngày 09/8/2017 tại nhà của anh Nguyễn Văn H thuộc ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn T đã có hành vi dùng 01 con dao (chiều dài khoảng 45cm, lưỡi dao bằng thép dài khoảng 30cm, hình lưỡi liềm, bản rộng khoảng 03cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 15cm) chém 01 nhát trúng vào phía sau vai trái và 01 nhát trúng vào hông bên phải của anh Đỗ Văn M, làm anh M bị thương với tỷ lệ thương tật là: 62%. Do đó, đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 104 của bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo Nguyễn Văn T được áp dụng nguyên tắc có lợi được quy định tại Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7 và khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của anh Đỗ Văn M, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi thường thiệt hại về phần dân sự, người bị hại có đơn xin bãi nại và tại phiên tòa bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Vật chứng vụ án: Nguyễn Văn T khai nhận, sau khi dùng dao gây thương tích cho anh Đỗ Văn M, trong lúc bỏ trốn đã ném con dao đi đâu không rõ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không thu hồi được. Nên Hội đồng xét xử không có cơ sở giải quyết.

[6] Về dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7 và khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T  phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 01 năm 2018.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo Nguyễn Văn T, anh Đỗ Văn M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


81
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về