Bản án 26/2018/HS-ST ngày 31/08/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 26/2018/HS-ST NGÀY 31/08/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số27/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Mùa A P; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1973 tại xã T, huyện B, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mùa A L (đã chết) và bà Vàng Thị D, sinh năm 1930; bị cáo có vợ Sồng Thị D, sinh năm 1975 và 05 con, con lớn nhất 23 tuổi, con nhỏ nhất 12 tuổi; Tiền án: không; tiền sự: ngày 05/5/2017, Mùa A P bị Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y ra Quyết định số 83/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, quản lý tại gia đình với thời hạn là 03 tháng; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam giữ từ ngày 26/4/2018 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 26/4/2018, Mùa A P lên cơn nghiện vàđi tìm mua ma túy. Bị cáo đi bộ từ nhà ra đường Quốc lộ 37 gặp một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đi bộ trên đường, P hỏi “có ma túy không”, người đàn ông này trả lời “có một tý”, P nói “thế thì bán cho 100.000 đồng”. Người đàn ông này đưa cho P hai gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng, P đưa cho người đàn ông đó 100.000 đồng rồi cầm gói ma túy cất giấu trong túi áo ngực đang mặc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, P cầm theo hai góima túy cất giấu trong túi áo ngực đang mặc đi bộ xuống xã M, khi đi đến địa phận bản M, xã H, huyện B thì bị tổ Công tác Công an huyện B kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra Mùa A P đã tự giác giao nộp 02 gói ma túy cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Về vật chứng của vụ án gồm:02 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng, bị cáo Mùa A P khai là Heroine.

Ngày 27/4/2018, Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong cân tịnh số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Mùa A P và lấy mẫu gửi giám định. Kết quả cân tịnh như sau:

Số chất bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ nhất có khối lượng là0,105g (không phẩy một không năm gam), lấy toàn bộ 0,105g ký hiệu M1 làm mẫu gửi giám định.

Số chất bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ hai có khối lượng là0,074g (không phẩy không bảy tư gam), lấy toàn bộ 0,074 g ký hiệu M2 làm mẫu gửi giám định.

Ngày 04/5/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có bản kết luận giám định số: 548, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định ký hiệu M1, M2 là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là M1 = 0,105 gam, M2 =0,074 gam.”

Tại phiên tòa công khai bị cáo Mùa A P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS-BYngày 01 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, truy tố bị cáo Mùa A P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38;điểm s khoản 1, khoản 2 Điều51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Mùa A P mức án từ 18 đến 22 tháng tù. Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đềnghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 02 mảnh giấy nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Mùa A P tự bào chữa:Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, mong hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét chobị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Về hành vi phạm tội của bị cáoMùa A P có đủ cơ sở để khẳng định:

Ngày 26/4/2018 bị cáo Mùa A P đã có hành vi đi mua 0,179 gam Heroine với giá 100.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biếtvề cất giấu trái phépđể sử dụng. Đến 17 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang đi bộ tại địa phận bản M, xã H, huyện B, thì bị tổ Công tác Công an huyện B phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.Tiến hành giám định chất ma túy thu được của bị cáo Mùa A P kết quả giám định “là ma túy, loại Heroine”.

Xét hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gâyảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi, nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm với động cơ mục đích cá nhân.Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi trên của của bị cáo Mùa A P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, việc xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.

 [3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Mùa A P: Bị cáo đã đi mua và cất giấu trái phép0,179 gam Heroine để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Mùa A P: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, song nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy, ngày 05/5/2017, bị cáo đã bị Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y ra Quyết định số 83/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, quản lý tại gia đình với thời hạn là 03 tháng, nhưng bị cáo vẫn không quyết tâm cai nghiện mà tiếp tục đi mua ma túy về cất giấu để sử dụng trái phép.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi bị kiểm tra hành chính bị cáo đã tự giác giao nộp chất ma túy tạo điều kiện giúp cơ quan điều tra, điều tra phát hiện tội phạm một cách nhanh chóng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và am hiểu pháp luật có phần hạn chế; bị cáo bị tai nạn giao thông, có tỷ lệ thương tật, tổn thương cơ thể theo giám định của cơ quan chuyên môn là43%.Nên bị cáo Mùa A P được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t,s  khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức hình phạttương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đồng thờicách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạobị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.

 [4] Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam theo quy định tại khoản1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian thụ hình.

 [5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó,bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai củabị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp, gia đình thuộc diện hộ nghèo của xã C, huyện Y, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối vớibị cáo.

 [6] Về vật chứng của vụ án: Đối với số vật chứng gồm:02 mảnh giấy nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì thư do bưu điện phát hành dùng niêm phong vật chứng ban đầu là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.Vì vậycần căn cứkhoản 1,điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý.

 [7] Đối với nguồn gốc Heroin bị cáo Mùa A P khai mua của người đàn ông dân tộc Thái bị cáo tình cờ gặp trên đường Quốc lộ 37, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Yên đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ, cơ sở để xử lý.

 [8] Về án phí: Gia đình bị cáo Mùa A P thuộc hộ nghèo của xã C, huyện Ythuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, điều 12Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Mùa A P 18 tháng (mười tám tháng) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian thụ hình tính từ ngày 26/4/2018 là ngày bị bắt tạm giam giữ đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tuyên tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 02 mảnh giấy nilon màu xanh;01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu (đã được niêm phong).

Về Án phí: Áp dụng đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí cho bị cáo Mùa A P.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


28
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về